Từ mô hình ngân hàng một cấp trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bước ngoặt đổi mới sang mô hình hai cấp năm 1990 đã xác lập vai trò trung gian tài chính quan trọng của hệ thống ngân hàng, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy và tổ chức hoạt động tín dụng. Kể từ đó đến nay, tín dụng ngân hàng không ngừng được mở rộng về quy mô, toàn diện về cả tín dụng thương mại và tín dụng chính sách xã hội, trở thành nguồn lực then chốt hỗ trợ sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Dòng vốn tín dụng phục vụ kháng chiến và góp phần kiến thiết nền móng kinh tế
Việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam năm 1951 đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tổ chức và quản lý hoạt động tiền tệ, tín dụng. Trong bối cảnh kháng chiến, bên cạnh nhiệm vụ quản lý phát hành và điều hòa lưu thông tiền tệ, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã chú trọng phát triển tín dụng ngân hàng, góp phần thực hiện chủ trương và chính sách kinh tế, trong đó hướng chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành nghề ở nông thôn - khu vực nền tảng của nền kinh tế. Qua đó góp phần bảo đảm lương thực, ổn định đời sống và góp phần quan trọng vào chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và giải phóng Thủ đô (10/10/1954), kết thúc hơn nửa thế kỷ thực dân Pháp đô hộ miền Bắc Việt Nam.
Sau năm 1954, đặc biệt trong giai đoạn 1955-1975, trong bối cảnh miền Bắc xây dựng XHCN, kháng chiến chống Mỹ, miền Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, chống lại Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ở miền Bắc và hỗ trợ nguồn lực cho công cuộc giải phóng đất nước với tinh thần “Tất cả cho miền Nam ruột thịt”. Giai đoạn này vốn tín dụng vẫn mang tính chất bao cấp, bên cạnh kênh cấp phát từ ngân sách nhà nước, do vậy được định hướng vào phát triển kinh tế quốc doanh, thúc đẩy hợp tác hóa nông nghiệp và hỗ trợ khu vực kinh tế tập thể theo mô hình của nền kinh tế kế hoạch hóa. Sau khi đất nước thống nhất (1975-1986), tín dụng tiếp tục khẳng định vai trò là công cụ quan trọng nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công ở miền Bắc và ổn định phát triển kinh tế miền Nam, xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất đồng thời cải tiến cơ chế quản lý kinh tế, từng bước tạo tiền đề cho sự chuyển đổi từ bao cấp sang hạch toán kinh tế.
Tín dụng từ thời kỳ bước vào đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã tạo bước chuyển căn bản trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đưa tín dụng trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế khi hệ thống ngân hàng từng bước được tổ chức lại và tách bạch rõ chức năng quản lý và kinh doanh. Một số mốc tăng trưởng trong giai đoạn này như: Dư nợ tín dụng đến cuối năm 1997 đạt 62.200 tỷ đồng, tăng hơn 6 lần so với đầu thập niên 1990; đến năm 2008 đạt khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 10 năm đạt khoảng 28%/năm. Dòng vốn tín dụng được phân bổ rộng khắp các ngành, lĩnh vực; cơ cấu tín dụng dịch chuyển dần từ doanh nghiệp quốc doanh sang doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tạo tiền đề trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoạt động tín dụng cũng đã góp phần rất lớn trong việc hỗ trợ vốn cho các dự án quốc gia (các dự án cầu, đường…), góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đáng chú ý, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008, tín dụng ngân hàng không chỉ đóng vai trò cung ứng vốn, mà còn là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hiệu quả, góp phần thực hiện định hướng phát triển và ổn định nền kinh tế.

Tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay - Khơi thông nguồn lực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, tín dụng của ngành ngân hàng ngày càng hoàn thiện trên cả 2 phương diện - hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường thực thi bằng các hành động, giải pháp cụ thể:
* Cơ chế, chính sách tín dụng thường xuyên được rà soát, hoàn thiện, đóng góp tích cực vào quá trình hoàn thiện thể chế - một trong 3 đột phá chiến lược đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XI, XII, XIII và gần đây nhất là Đại hội XIV. Theo đó, các quy định về các hình thức cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh, thư tín dụng, cho thuê tài chính, bao thanh toán, chiết khấu…) ngày càng đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu cầu của các TCTD, khách hàng và phù hợp với tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển của đất nước theo đúng chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều cơ chế, chính sách tín dụng đối với các ngành, lĩnh vực thiết yếu, quan trọng của nền kinh tế (như nông nghiệp, nông thôn, nhà ở, công nghiệp hỗ trợ…).
* Các hành động, giải pháp cụ thể được tăng cường thực thi với tinh thần quyết tâm, thể hiện thông qua:
Công tác chỉ đạo, điều hành tín dụng ngành, lĩnh vực: Ngoài chỉ đạo tại Chỉ thị 01/CT-NHNN hàng năm, NHNN đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các tổ chức tín dụng liên quan đến công tác tín dụng chung, tín dụng ngành, lĩnh vực, trong đó định hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng;
Triển khai mạnh mẽ, sâu rộng chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, với hàng nghìn buổi gặp gỡ, đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp được tổ chức trên toàn quốc hằng năm nhằm tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng;
Triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và đạt nhiều kết quả tích cực; thông qua đó, thể hiện quyết tâm, nỗ lực của NHNN, ngành Ngân hàng trong việc cụ thể hóa các định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm, với lãi suất thấp, ưu đãi từ chính nguồn lực của các TCTD. Cụ thể như: Chương trình cho vay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP của Chính phủ (đã hoàn tất mục tiêu quy mô 100.000 tỷ đồng vào năm 2022); Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản (3 lần nâng quy mô và hiện đã giải ngân hoàn thành mục tiêu 185.000 tỷ đồng); Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng ĐBSCL theo Quyết định 1490/QĐ-TTg (đã giải ngân đạt khoảng 3.800 tỷ đồng); Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP (đã cam kết cho vay gần 20.500 tỷ đồng, doanh số giải ngân đạt 9.900 tỷ đồng); Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược (mới được triển khai và đã ký hợp đồng tín dụng để tài trợ 8 dự án thuộc danh mục của chương trình với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng khoảng 70.932 tỷ đồng, đã giải ngân khoảng 7.600 tỷ đồng. Ngoài ra, các NHTM cũng đang tiếp cận khoảng 23 dự án thuộc lĩnh vực điện, giao thông thuộc danh mục dự án tham gia chương trình);
Tích cực triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, đặc biệt là chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do một số nguyên nhân (như dịch Covid-19, thiên tai, khó khăn trong sản xuất kinh doanh...), tạo điều kiện cho 1,3 triệu khách hàng được cơ cấu lại thời hạn trả nợ với giá trị nợ gốc, lãi khoảng 1 triệu tỷ đồng; riêng giai đoạn dịch Covid-19, các TCTD đã giảm lãi cho khách hàng khoảng 50 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, trước diễn biến phức tạp của chiến tranh Trung Đông và tình hình năng lượng thế giới, NHNN đã kịp thời chỉ đạo các TCTD tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về ngoại tệ, tín dụng để các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xăng dầu tiếp cận nguồn vốn phục vụ nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu theo đúng quy định pháp luật (hiện hạn mức cho các doanh nghiệp xăng dầu là trên 128 nghìn tỷ đồng, các doanh nghiệp đang sử dụng 45% hạn mức);
Triển khai nhiệm vụ có liên quan đến tín dụng ngân hàng tại các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, các đề án, chiến lược, kế hoạch phát triển tổng thể quốc gia, địa phương, vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, quan trọng; các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, chưa có tiền lệ (như Nghị quyết đặc thù về phát triển thủ đô Hà Nội, điện hạt nhân Ninh Thuận...);
Triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội, các chương trình tín dụng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Đây là tiền đề để tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi 2026-2030.
* Bằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp, cơ chế, chính sách tín dụng nêu trên, quy mô tín dụng ngân hàng đã tăng trưởng mạnh mẽ, từ vài nghìn tỷ đồng trong những năm đầu đổi mới lên trên 19,3 triệu tỷ đồng hiện nay, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các kết quả được thể hiện cơ bản trên các mặt về: cơ cấu tín dụng theo ngành, lĩnh vực, theo thành phần kinh tế, tín dụng cho các dự án, công trình trọng điểm, tín dụng xanh, tín dụng chính sách xã hội, cụ thể như sau:
Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng tín dụng đối với ngành nông nghiệp (hiện chiếm khoảng 6%), tăng dần tỷ trọng tín dụng đối với ngành công nghiệp, xây dựng (chiếm 23,5%), thương mại dịch vụ (chiếm 70,5%), tương đối phù hợp với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên được quan tâm đầu tư theo đúng định hướng; trong đó, một số lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn (như nông nghiệp, nông thôn luôn chiếm khoảng 22%-25%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%-22% tổng dư nợ), một số lĩnh vực thường có tốc độ tăng trưởng cao (như công nghiệp hỗ trợ tăng khoảng 23,82% trong năm 2025);
Cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án và công trình quy mô lớn trong các lĩnh vực then chốt, có tính lan tỏa, tạo đột phá thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đặc biệt như hạ tầng, năng lượng và công nghiệp. Một số dự án được cam kết đầu tư tín dụng lớn lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng như: Dự án nâng cấp tuyến đường Pháp Vân - Cầu Giẽ, TP. Hà Nội (tổng mức đầu tư gần 7.000 tỷ đồng); Dự án BOT Cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận giai đoạn 1 (tổng mức đầu tư hơn 12.000 tỷ đồng); Dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch 1 (tổng mức đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng); Dự án Thủy điện Sơn La (tổng mức đầu tư hơn 60.000 tỷ đồng); Dự án Thủy điện Lai Châu (tổng mức đầu tư gần 36.000 tỷ đồng);…
Trong các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất của nền kinh tế cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của ngành Ngân hàng, với quy mô dư nợ ngày càng tăng, hiện đạt trên 14,5 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 92% tổng dư nợ của nền kinh tế; cho thấy tín dụng ngân hàng đã và đang theo đúng định hướng, quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết 68/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân;
Dòng vốn tín dụng hướng vào các dự án xanh, thân thiện với môi trường, với dư nợ xanh hiện đạt trên 780 nghìn tỷ đồng; dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 5,1 triệu tỷ đồng, qua đó góp phần thực hiện chủ trương hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường khi thực hiện các dự án và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững;
Bên cạnh tín dụng thương mại, tín dụng chính sách xã hội ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong các chính sách an sinh xã hội của đất nước. Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Đến nay, NHCSXH đã và đang triển khai cho vay trên 20 chương trình tín dụng chính sách với tổng doanh số cho vay đạt trên 873 nghìn tỷ đồng, với gần 22 triệu lượt khách hàng được vay vốn; dư nợ đạt 437,7 nghìn tỷ đồng với trên 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ. Nguồn vốn tín dụng chính sách đã hỗ trợ đầu tư sản xuất kinh doanh cho trên 7 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; hỗ trợ tạo việc làm cho trên 4,7 triệu lao động, giúp hơn 638 nghìn học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn vay vốn học tập, trong đó trên 5 nghìn lượt học sinh, sinh viên theo học ngành STEM; xây dựng hơn 14,5 triệu công trình nước sạch, công trình vệ sinh ở nông thôn; gần 63 nghìn căn nhà ở xã hội cho hộ nghèo và các đối tượng thu nhập thấp…

Định hướng, giải pháp tín dụng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước
Trong thời gian tới, tình hình thế giới và trong nước dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với nhiều thách thức gay gắt hơn so với các giai đoạn trước (cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang...). Trong bối cảnh đó, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10% trở lên và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, NHNN và ngành ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng, trong đó tập trung vào một số giải pháp chính dựa trên 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược mà Đảng, Nhà nước đề ra cho giai đoạn mới, như:
- Tiếp tục chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, tín dụng ngành, lĩnh vực;
- Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước (về tam nông, khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng, dự án, công trình trọng điểm…);
- Điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; tổ chức triển khai, theo dõi và kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tiếp tục theo dõi, đánh giá các hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp với các bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực.
Các giải pháp nêu trên sẽ được triển khai với tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm mạnh mẽ để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của người dân, doanh nghiệp, nền kinh tế; qua đó góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững, tiến tới kỷ nguyên vươn mình, thịnh vượng của dân tộc.
Ths. Nguyễn Ngọc Cảnh
Phó Thống đốc NHNN Việt Nam



