Chủ nhật, 19/04/2026
   

4 nhóm đối tượng được gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất năm 2023 từ 3 đến 6 tháng

Ngày 14/4/2023, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định 12/2023/NĐ-CP về việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2023, có hiệu lực từ ngày ký ban hành đến hết ngày 31/12/2023. Sau

Ngày 14/4/2023, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định 12/2023/NĐ-CP về việc gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất trong năm 2023, có hiệu lực từ ngày ký ban hành đến hết ngày 31/12/2023. Sau thời gian gia hạn theo Nghị định này, thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất được thực hiện theo quy định hiện hành.

Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định, ngày 16/4, Tổng cục Thuế đã có Công điện số 02/CĐ-TCT về việc triển khai Nghị định số 12/2023/NĐ-CP của Chính phủ gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và tiền thuê đất trong năm 2023. Nghị định số 12/2023/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày ký ban hành đến hết ngày 31/12/2023.

Để triển khai thực hiện các nội dung quy định tại Nghị định, Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tuyên truyền, phổ biến cho người nộp thuế trên địa bàn để kịp thời thực hiện Nghị định số 12/2023/NĐ-CP của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Theo đó, có 4 nhóm đối tượng được gia hạn như sau: Nhóm 1, doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất trong các ngành kinh tế sau: (a) Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; (b) Sản xuất, chế biến thực phẩm; dệt; sản xuất trang phục; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sản xuất kim loại; gia công cơ khí; xử lý và tráng phủ kim loại; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học; sản xuất ô tô và xe có động cơ khác; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế; (c) Xây dựng; (d) Hoạt động xuất bản; hoạt động điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; (đ) Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên (không gia hạn đối với thuế thu nhập doanh nghiệp của dầu thô, condensate, khí thiên nhiên thu theo hiệp định, hợp đồng); (e) Sản xuất đồ uống; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị); sản xuất mô tô, xe máy; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị; (g) Thoát nước và xử lý nước thải.

Nhóm 2, doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động kinh doanh trong các ngành kinh tế sau: (a) Vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; giáo dục và đào tạo; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; hoạt động kinh doanh bất động sản; (b) Hoạt động dịch vụ lao động và việc làm; hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch; (c) Hoạt động sáng tác, nghệ thuật và giải trí; hoạt động của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; hoạt động thể thao, vui chơi giải trí; hoạt động chiếu phim; (d) Hoạt động phát thanh, truyền hình; lập trình máy vi tính, dịch vụ tư vấn và các hoạt động khác liên quan đến máy vi tính; hoạt động dịch vụ thông tin; (đ) Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai khoáng.

Nhóm 3, doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển; sản phẩm cơ khí trọng điểm.

Nhóm 4, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ được xác định theo quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ngành kinh tế, lĩnh vực của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 là ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát sinh doanh thu trong năm 2022 hoặc 2023.

Nghị định số 12/2023/NĐ-CP, đã gia hạn 06 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng từ tháng 3 đến tháng 5/2023 và quý I/2023; gia hạn 05 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 6/023 và quý II/2023; gia hạn 04 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 7/2023; gia hạn 03 tháng đối với số thuế giá trị gia tăng của tháng 8/2023;

Ngoài ra, Ngị định số 12, cũng gia hạn 03 tháng đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý I, quý II của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2023; hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân năm 2023 chậm nhất là ngày 30/12/2023; gia hạn 6 tháng đối với 50% số tiền thuê đất phát sinh phải nộp năm 2023.

Về trình tự, thủ tục gia hạn, người nộp thuế thuộc đối tượng được gia hạn gửi Giấy đề nghị gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất một lần cho toàn bộ số thuế, tiền thuê đất phát sinh trong các kỳ tính thuế được gia hạn cùng với thời điểm nộp hồ sơ khai thuế theo tháng (hoặc theo quý) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Trường hợp Giấy đề nghị gia hạn không nộp cùng với thời điểm nộp hồ sơ khai thuế thì thời hạn nộp chậm nhất là ngày 30 tháng 9 năm 2023.

Người nộp thuế tự xác định và chịu trách nhiệm về việc đề nghị gia hạn đảm bảo đúng đối tượng được gia hạn theo Nghị định này. Nếu người nộp thuế gửi Giấy đề nghị gia hạn cho cơ quan thuế sau ngày 30/9/2023 thì không được gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này.

Cơ quan thuế không phải thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất. Trường hợp trong thời gian gia hạn, cơ quan thuế có cơ sở xác định người nộp thuế không thuộc đối tượng gia hạn thì cơ quan thuế có văn bản thông báo cho người nộp thuế về việc không gia hạn và người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế, tiền thuê đất và tiền chậm nộp trong khoảng thời gian đã thực hiện gia hạn vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp sau khi hết thời gian gia hạn, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện người nộp thuế không thuộc đối tượng được gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất theo quy định tại Nghị định này thì người nộp thuế phải nộp số tiền thuế còn thiếu, tiền phạt và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước.

Không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế, tiền thuê đất được gia hạn trong khoảng thời gian được gia hạn thời hạn nộp (bao gồm cả trường hợp người nộp thuế gửi Giấy đề nghị gia hạn cho cơ quan thuế sau khi đã nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại khoản 1 Điều này và trường hợp cơ quan có thẩm quyền qua kiểm tra, thanh tra xác định người nộp thuế được gia hạn có số phải nộp tăng thêm của các kỳ tính thuế được gia hạn).

Trường hợp cơ quan thuế đã tính tiền chậm nộp (nếu có) đối với các hồ sơ thuế thuộc trường hợp được gia hạn theo quy định tại Nghị định này thì cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh, không tính tiền chậm nộp.

Chủ đầu tư các công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, các khoản thanh toán từ nguồn ngân sách nhà nước cho các công trình xây dựng cơ bản của các dự án sử dụng vốn ODA thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng khi làm thủ tục thanh toán với Kho bạc Nhà nước phải gửi kèm thông báo cơ quan thuế đã tiếp nhận Giấy đề nghị gia hạn hoặc Giấy đề nghị gia hạn có xác nhận đã gửi cơ quan thuế của nhà thầu thực hiện công trình. Kho bạc Nhà nước căn cứ trên hồ sơ do chủ đầu tư gửi để chưa thực hiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng trong thời gian gia hạn. Khi hết thời gian gia hạn, nhà thầu phải nộp đủ số thuế được gia hạn theo quy định.

Toàn văn Nghị định 12/2023/NĐ-CP xem tại đây và Công điện số 02/CĐ-TCT xem tại đây.

  • Chiến lược 'phủ phân khúc' giúp VPBank mở rộng dư nợ tín dụng

    Chiến lược 'phủ phân khúc' giúp VPBank mở rộng dư nợ tín dụng

    VPBank xây dựng hệ sinh thái sản phẩm "may đo" theo từng nhóm khách hàng, đẩy mạnh chiến lược "phủ phân khúc", hướng tới mục tiêu mở rộng dư nợ tín dụng lên 1,3 triệu tỷ đồng năm 2026.

  • Định hướng dòng vốn tín dụng an toàn, hiệu quả cho kinh tế nhà nước

    Định hướng dòng vốn tín dụng an toàn, hiệu quả cho kinh tế nhà nước

    Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, góp phần ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược phát triển và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; đồng thời là nguồn lực quan trọng để nhà nước chủ động điều tiết, ứng phó với các tình huống cấp bách. Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng - kênh cung ứng vốn chủ yếu giữ vai trò quan trọng trong triển khai Nghị quyết.

  • VDB tài trợ tin dụng dự án hạ tầng điện, nước tại Đồng Nai và Đồng Tháp

    VDB tài trợ tin dụng dự án hạ tầng điện, nước tại Đồng Nai và Đồng Tháp

    Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn chính sách quan trọng khi triển khai các gói tín dụng đầu tư quy mô lớn cho các dự án hạ tầng thiết yếu, tập trung vào lĩnh vực điện năng và cấp nước tại khu vực phía Nam.

  • Ngân hàng tung gói "dịch vụ kép" cho hộ kinh doanh

    Ngân hàng tung gói "dịch vụ kép" cho hộ kinh doanh

    Trước yêu cầu ngày càng cao về minh bạch hóa hoạt động và chuyển đổi số, nhóm hộ kinh doanh đang trở thành một trong những phân khúc được các ngân hàng thương mại tập trung khai thác. Không chỉ dừng ở tín dụng, nhiều nhà băng đã triển khai "dịch vụ kép" đồng thời các gói sản phẩm tích hợp, kết hợp vốn vay với giải pháp vận hành và mở rộng thị trường.

  • ABBank hợp tác cơ quan Thuế thúc đẩy kê khai, nộp thuế số

    ABBank hợp tác cơ quan Thuế thúc đẩy kê khai, nộp thuế số

    Ngày 14/4/2026, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) ký kết thỏa thuận hợp tác với Cục Thuế và cơ quan thuế tại 22 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp số hỗ trợ cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp trong kê khai, nộp thuế.

  • BVBank đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 34%

    BVBank đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 34%

    Ngày 16/4/2026, Ngân hàng Bản Việt (BVBank) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 (ĐHĐCĐ) với nhiều nội dung quan trọng được đệ trình và thông qua.

  • Tín dụng ưu đãi cho nhà ở xã hội tăng tốc

    Tín dụng ưu đãi cho nhà ở xã hội tăng tốc

    Trong bối cảnh nhu cầu nhà ở xã hội gia tăng, tín dụng ưu đãi đang được đẩy mạnh như một giải pháp trọng tâm để “khơi thông” cả cung và cầu. Việc duy trì lãi suất thấp và kéo dài thời gian ưu đãi đang tạo lực đẩy giúp chương trình nhà ở xã hội tăng tốc trên phạm vi cả nước.

  • SHB muốn trở thành ngân hàng tầm vóc quốc gia thế hệ mới

    SHB muốn trở thành ngân hàng tầm vóc quốc gia thế hệ mới

    Trong dòng chảy phát triển mới của đất nước, khi các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị đang mở ra một 'khung chiến lược' cho tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ hơn, vai trò của các định chế tài chính không còn dừng ở việc cung ứng vốn.

  • VietinBank nâng tầm đẳng cấp khách hàng ưu tiên bằng hệ sinh thái toàn diện

    VietinBank nâng tầm đẳng cấp khách hàng ưu tiên bằng hệ sinh thái toàn diện

    Chiều ngày 16/4/2026, VietinBank cùng đối tác BCG - Tập đoàn tư vấn chiến lược hàng đầu của Mỹ thuộc nhóm "Big Three" toàn cầu tổ chức Diễn đàn chiến lược khách hàng ưu tiên (KHƯT) VietinBank và Tọa đàm Kiến tạo hệ sinh thái giá trị cho KHƯT.

  • Đảng bộ Agribank triển khai Kết luận số 208-KL/TW: Quyết liệt, bài bản, giữ vững ổn định hoạt động

    Đảng bộ Agribank triển khai Kết luận số 208-KL/TW: Quyết liệt, bài bản, giữ vững ổn định hoạt động

    Chiều ngày 15/4/2026, tại Trụ sở chính Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Đảng ủy Agribank đã có buổi làm việc với Đoàn khảo sát của Đảng ủy Chính phủ về việc thực hiện Kết luận số 208-KL/TW ngày 11/11/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức đảng trong các tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước.

Tính lãi tiền gửi
VNĐ
%/year
month
Tính lãi tiền gửi

Tính toán khoản vay
VNĐ
%/year
month
Tính toán khoản vay