Tham dự cuộc họp, về phía Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ có: Ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng; ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Cục trưởng.
Về phía Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam có: ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký; bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng; cùng đại diện các tổ chức hội viên tham dự trực tiếp và trực tuyến.
Tham dự cuộc họp còn có đại diện Vụ Pháp chế, Ngân hàng Nhà nước; Vụ Pháp luật Dân sự-Kinh tế và Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm và Bồi thường nhà nước, Bộ Tư pháp; Cục Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Hội Sở hữu trí tuệ; Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc; Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội; Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học công nghệ Việt Nam; CTCP Công nghệ mới Nhật Hải...
Ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ phát biểu
Phát biểu khai mạc cuộc họp, ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ cho biết, trong nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Nghị quyết số 57-NQ/TW (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) giao cho Cục Sở hữu trí tuệ tham gia với ngành khoa học và công nghệ, có một nhiệm vụ quan trọng là theo dõi và nâng cao chỉ số đơn sáng chế của người Việt Nam, với mục tiêu đạt từ 16-18%, đồng thời nâng tỷ lệ thương mại hóa sáng chế lên khoảng 8-10%. Đây là những chỉ số ở mức cao so với mặt bằng chung trên thế giới.
“Ngoài ra, gần đây chúng tôi được giao thêm một nhiệm vụ mới, đó là khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ nhằm phục vụ doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu thương mại hóa tài sản trí tuệ, thậm chí hình thành một lĩnh vực mới”, ông Lưu Hoàng Long chia sẻ.
Cũng theo ông Lưu Hoàng Long, hiện nay nhu cầu trên thị trường là rất rõ ràng. Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp khởi nghiệp, tài sản chủ yếu của họ chính là tài sản trí tuệ. Như vậy, nguồn cầu là có, thậm chí rất lớn. Về phía cung, ngành Ngân hàng cũng đang cần những không gian mới để phát triển các hình thức hoạt động mới. Thực tế cho thấy, dù đã có cả cung và cầu nhưng thị trường này vẫn rất khó phát triển. Do vậy, cuộc họp này được tổ chức nhằm trao đổi tìm giải pháp để khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ.
Trao đổi tại cuộc họp, ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nêu lên thực trạng nhiều tài sản sở hữu trí tuệ đã được đăng ký bảo hộ nhưng chưa được đưa vào khai thác, ứng dụng do thiếu nguồn lực tài chính. Trong khi đó, các tổ chức tín dụng cũng bày tỏ sự quan tâm đến lĩnh vực này, song thực tế lại gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, thẩm định và cho vay. “Chúng ta có cả cung và cầu nhưng vẫn chưa thể gặp nhau để tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu”, ông Nguyễn Quốc Hùng nhận định.
Ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng phát biểu
Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, vấn đề cốt lõi nằm ở việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm. Dù pháp luật đã có quy định cho phép nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc liên quan đến điều kiện thế chấp, phương pháp định giá, trách nhiệm của các bên và cơ chế xử lý tài sản khi phát sinh rủi ro. Đây là những câu hỏi lớn khiến các ngân hàng còn lúng túng và thận trọng trong triển khai.
“Việc tổ chức cuộc họp với sự tham gia của các bộ, ngành, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ giúp làm rõ các vướng mắc, thống nhất nhận thức và đề xuất giải pháp khả thi. Trên cơ sở, qua tổng hợp ý kiến, các bên sẽ kiến nghị lên cơ quan có thẩm quyền nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, qua đó tạo điều kiện để Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị được triển khai hiệu quả và đi vào thực tiễn”, ông Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh.
Nhận diện “điểm nghẽn”
Trao đổi tại cuộc họp, ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ chỉ ra rằng, dù Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự đều cho phép thế chấp quyền tài sản trí tuệ nhưng trên thực tế, hoạt động này gần như "đóng băng" hoặc chỉ phát sinh ở mức độ rất hạn chế.
Qua nghiên cứu sơ bộ, Cục Sở hữu trí tuệ nhận diện có 3 "điểm nghẽn" chính, gồm:
Trước hết là điểm nghẽn về định giá, được xác định là rào cản lớn nhất. Tài sản sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình, giá trị phụ thuộc nhiều vào biến động của thị trường và sự thay đổi của công nghệ. Trong khi đó, Việt Nam hiện còn thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp có đủ năng lực, thiếu cơ sở dữ liệu so sánh và chưa có hệ thống tiêu chuẩn định giá thống nhất được hệ thống ngân hàng chấp nhận. Điều này khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc xác định giá trị thực của tài sản, cũng như trong việc lượng hóa và quản trị rủi ro khi xem xét cho vay.
Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ phát biểu
Điểm nghẽn thứ hai liên quan đến thanh khoản và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm, hay còn gọi là thị trường thứ cấp. Khác với bất động sản, thị trường giao dịch thứ cấp đối với quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam hiện gần như chưa hình thành, trong khi cơ chế chuyển giao quyền sở hữu khi xử lý nợ vẫn còn phức tạp, làm giảm khả năng thu hồi vốn của tổ chức tín dụng.
Điểm nghẽn thứ ba là các vấn đề liên quan đến cơ chế bảo đảm và khung pháp lý. Một mặt, rủi ro pháp lý vẫn hiện hữu do văn bằng bảo hộ có thể bị hủy bỏ hiệu lực trong thời gian thế chấp hoặc quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xâm phạm, dẫn đến tổn thất về kinh tế. Mặt khác, sự liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý, như Cục Sở hữu trí tuệ – nơi đăng ký, xác lập và duy trì quyền sở hữu trí tuệ – và Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (Bộ Tư pháp) hiện chưa được thiết lập đầy đủ, làm gia tăng rủi ro trong việc tra cứu, xác định tình trạng pháp lý của tài sản. Bên cạnh đó, các công cụ phòng ngừa rủi ro còn thiếu, như chưa có sản phẩm bảo hiểm cho vay thế chấp bằng quyền sở hữu trí tuệ, cũng như chưa có cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp cho loại hình tài sản đặc thù này.
Bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát biểu
Dưới góc độ ngân hàng, bà Nguyễn Thị Phương, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam nêu rõ, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, các quy định hiện nay của pháp luật mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn chung về thế chấp tài sản, chưa có những quy định áp dụng riêng đối với tài sản đặc thù là tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ ban hành năm 2025 có nội dung sửa đổi Điều 8 về Chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ, tuy nhiên, chính sách chỉ dừng ở mức “khuyến khích”, chưa có quy định hướng dẫn cụ thể việc nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ, gây khó khăn, vướng mắc cho các TCTD khi nhận thế chấp loại tài sản này, trong khi pháp luật chuyên ngành về sở hữu trí tuệ cũng chưa có các hướng dẫn chi tiết về việc thế chấp tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ, do vậy trên thực tế một số TCTD chưa phát sinh việc bảo đảm cấp tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ hoặc hạn chế nhận thế chấp tài sản này.
Bên cạnh những khó khăn về công tác thẩm định, định giá tài sản bảo đảm, bà Nguyễn Thị Phương cũng chỉ ra rằng, tài sản trí tuệ tiềm ẩn nguy cơ cao phát sinh các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và công nghệ AI phát triển mạnh như hiện nay. Bên cạnh đó, tài sản trí tuệ dễ bị sụt giảm giá trị do sự phát triển mạnh mẽ, thay đổi của công nghệ và chuyển đổi số. Ngoài ra, đối thủ cạnh tranh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như làm hàng giả, hàng nhái cũng có thể làm giảm sút uy tín cũng như giá trị của tài sản trí tuệ đang được thế chấp. Do đó, các ngân hàng gặp khó khăn và tiềm ẩn rủi ro cao trong quá trình quản lý tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ...
Đại diện Vietcombank trao đổi tại cuộc họp
Trong khi đó, đại diện Vietcombank cho rằng, cần phân biệt rõ giữa hai khía cạnh là cấp tín dụng và nhận tài sản bảo đảm. Theo quy định hiện hành, việc cấp tín dụng phải dựa trên phương án sử dụng vốn có hiệu quả, trong khi các sản phẩm công nghệ lại mang tính đặc thù cao, có thời hạn, mức độ thành công khó dự đoán và rủi ro lớn.
Do đó, ngay từ khâu xem xét cấp tín dụng, các tổ chức tín dụng phải thẩm định rất kỹ lưỡng phương án tài chính, bao gồm dự phóng chi phí, lợi nhuận, vòng quay vốn, tuổi đời sản phẩm, thời điểm hòa vốn và khả năng thu hồi vốn. Thực tế cho thấy, giá trị của sản phẩm công nghệ có thể tăng rất nhanh nếu thành công, nhưng cũng có thể giảm về mức rất thấp nếu thất bại. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải nâng cao năng lực thẩm định và cần có thêm cơ sở thị trường để đánh giá.
Ông Lưu Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, Chủ tịch CTCP Công nghệ mới Nhật Hải phát biểu tại buổi họp
Dưới góc độ của nhà sáng chế, ông Lưu Hải Minh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, Chủ tịch CTCP Công nghệ mới Nhật Hải cũng nhìn nhận, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là câu chuyện định giá. “Phải có định giá cho các sáng chế, sau đó các ngân hàng và tổ chức tín dụng mới dựa trên định giá đó để bảo lãnh. Có như vậy, những nhà sáng chế và công ty khoa học công nghệ như chúng tôi mới có thể vay được tiền để tiếp tục tái đầu tư cho nghiên cứu”, ông Minh chia sẻ.
Ông Minh cũng nhấn mạnh thêm, khi nhà sáng chế mang tài sản trí tuệ ra ngân hàng để định giá và vay vốn, thì mục đích duy nhất phải là phát triển khoa học công nghệ. Nguồn vốn đó phải dùng để tạo ra sản phẩm và thương phẩm, chứ không nên mang đi đầu tư vào những việc không đúng mục đích hay đi buôn cái khác, vì như vậy sẽ tạo ra rủi ro rất lớn cho ngân hàng.
Giải pháp khơi thông nguồn vốn cho tài sản trí tuệ
Sau khi trao đổi làm rõ các điểm nghẽn và vướng mắc, đại diện cơ quan quản lý, ngân hàng, hiệp hội, doanh nghiệp đã đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nhằm khơi thông nguồn vốn cho tài sản trí tuệ.
Ông Nguyễn Hoàng Giang đề xuất cần xem xét cơ chế phối hợp và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý để bảo đảm cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin pháp lý liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ cho các bên liên quan, qua đó hỗ trợ kiểm soát rủi ro.
Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cũng đặt vấn đề về khả năng đề xuất một cơ chế thử nghiệm, theo đó, cho phép một số ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng có thế mạnh trong cho vay doanh nghiệp, được thí điểm cấp tín dụng có bảo đảm bằng quyền sở hữu trí tuệ với cơ chế trích lập dự phòng rủi ro linh hoạt hơn trong giai đoạn đầu. Thay vì chờ quyền sở hữu trí tuệ đủ điều kiện thế chấp hoàn toàn, ngân hàng có thể cân nhắc chấp nhận quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản bảo đảm bổ sung, với tỷ lệ nhất định bên cạnh tài sản hữu hình, hoặc xem xét hình thức bảo đảm bằng quyền đòi nợ hình thành trong tương lai từ dòng tiền doanh thu của sản phẩm gắn với quyền sở hữu trí tuệ.
Dưới góc nhìn từ CLB Pháp chế ngân hàng, bà Nguyễn Thị Phương đưa ra 5 nhóm giải pháp chính để khơi thông dòng vốn cho tài sản trí tuệ, cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện quy định về nhận tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ, xây dựng khung pháp lý quy định cụ thể đối với tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ, thế chấp tài sản là quyền sở hữu trí tuệ, trong đó, cần quy định cụ thể, rõ ràng.
Thứ hai, mở rộng danh mục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ nhằm gia tăng số lượng tài sản có thể nhận thế chấp và giao dịch và bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ đã đăng ký đúng quy định của pháp luật nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình tài sản quyền sở hữu trí tuệ được thế chấp tại các TCTD.
Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin, thị trường giao dịch tài sản là quyền sở hữu trí tuệ để tăng minh bạch thông tin, hỗ trợ TCTD khi nhận thế chấp quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ tư, thiết lập cơ chế riêng cho các công ty bảo hiểm chuyên về tài sản là quyền sở hữu trí tuệ cũng rất quan trọng, bởi các khoản vay dựa trên tài sản là quyền sở hữu trí tuệ thường khiến ngân hàng e ngại về khả năng thanh khoản. Khi các công ty bảo hiểm có thể thu hồi một phần tài sản thế chấp, rủi ro của bên cho vay giảm, đồng thời chi phí vay vốn cho doanh nghiệp cũng được hạ thấp hơn.
Thứ năm, triển khai thành công mô hình Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia theo quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo được xác định là yếu tố có tính dẫn dắt, tạo cơ sở để các tổ chức tín dụng tham gia. Trên cơ sở đó, Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ, thông qua Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia sẽ triển khai hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời thực hiện các biện pháp hỗ trợ như bảo lãnh, hỗ trợ lãi suất và tiếp nhận tài sản bảo đảm của các doanh nghiệp này. Trên nền tảng đó, các tổ chức tín dụng sẽ cùng tham gia, phối hợp thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu triển khai hiệu quả mô hình Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.
Đối với việc nhận tài sản bảo đảm là tài sản công nghệ, đại diện Vietcombank cho rằng, trong bối cảnh còn nhiều điểm nghẽn, giải pháp khả thi và có thể triển khai nhanh nhất là cơ chế bảo lãnh thông qua một quỹ công nghệ có tiềm lực tài chính. Theo đó, quỹ này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay và sẵn sàng nhận mua lại tài sản bảo đảm là tài sản công nghệ khi cần thiết, trên cơ sở định giá của tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp, có chuyên môn phù hợp với loại tài sản đặc thù này.
Giải pháp này được kỳ vọng sẽ giúp hóa giải các vướng mắc liên quan đến định giá, thanh khoản và xử lý tài sản bảo đảm, qua đó tạo điều kiện để dòng vốn tín dụng từng bước chảy vào lĩnh vực đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, các vấn đề mang tính dài hạn như hoàn thiện khung pháp lý hay giảm thiểu rủi ro pháp lý cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện theo lộ trình phù hợp.
Ông Phạm Nghiêm Xuân Bắc, Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ trao đổi tại cuộc họp
Ông Phạm Nghiêm Xuân Bắc, Chủ tịch Hội Sở hữu trí tuệ cho rằng, thực tế, vấn đề này đã được thảo luận trong khu vực ASEAN từ 15-20 năm trước. Những quốc gia được coi là đi đầu như Singapore hay Malaysia cũng đã triển khai nhưng gặp nhiều khó khăn, cho thấy đây là lĩnh vực đặc biệt phức tạp. Do đó, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình được đánh giá là thành công hơn như Hàn Quốc hoặc Trung Quốc.
Đại diện Hội Sở hữu trí tuệ nhấn mạnh thêm, trong quá trình thực hiện cần tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế, bởi nếu rủi ro pháp lý quá lớn thì các tổ chức tín dụng và cán bộ tín dụng sẽ không sẵn sàng tham gia. Trên thực tế, ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có cơ sở rõ ràng về khả năng thu hồi vốn. Do đó, không nên coi sáng chế như một tài sản tự thân có thể ngay lập tức tạo ra dòng tiền. Sáng chế là một bộ phận của công nghệ và chỉ thực sự có giá trị khi gắn với dự án cụ thể, có phương án kinh doanh và dòng tiền rõ ràng. Trong hoạt động cấp tín dụng, quyền sở hữu trí tuệ nên được xem là yếu tố bảo đảm bổ trợ, chỉ được xử lý khi phương án kinh doanh không đạt kỳ vọng, thay vì là căn cứ duy nhất để cho vay.
Ông Vũ Đức Lợi, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc
Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế, ông Vũ Đức Lợi, Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc cho rằng, thị trường khoa học và công nghệ muốn vận hành hiệu quả cần có các định chế trung gian đóng vai trò kết nối giữa bên có sáng chế và doanh nghiệp có nhu cầu. Khi cung – cầu được kết nối rõ ràng, hình thành dự án cụ thể, việc định giá công nghệ và tiếp cận tín dụng ngân hàng sẽ thuận lợi hơn. Ngoài ra, mô hình đấu giá công nghệ thông qua các sàn giao dịch, nơi công nghệ và sáng chế được công khai để doanh nghiệp lựa chọn, cũng là cách làm hiệu quả mà Hàn Quốc đang triển khai mạnh.
Từ góc độ thị trường, bà Nguyễn Thị Hương Liên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học công nghệ Việt Nam cho rằng, hiện nay đang thiếu một sàn giao dịch tài sản trí tuệ hiệu quả, cũng như chưa có các bộ chỉ số tín nhiệm đối với nhà khoa học và doanh nghiệp. Do đó, nếu xây dựng được một sàn giao dịch với đầy đủ các thông tin và chỉ số tín nhiệm này, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ có thêm căn cứ để đánh giá rủi ro. Quyền quyết định định giá và chấp nhận rủi ro vẫn thuộc về ngân hàng, nhưng cần được đặt trên nền tảng các tiêu chí minh bạch và có thể tham chiếu.
Trao đổi tại cuộc họp đại diện Bộ Tư pháp cho rằng, về khía cạnh pháp luật, việc vận hành cơ chế sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm chịu sự điều chỉnh của nhiều khuôn khổ pháp luật khác nhau, không chỉ riêng pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Gốc rễ của vấn đề là quyền sở hữu, do đó, phải có nền tảng pháp lý về xác lập, ghi nhận quyền sở hữu và ghi nhận việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm trong các luật chuyên ngành. Bên cạnh đó là các quy định của Bộ luật Dân sự, cùng với các quy định pháp luật mang tính chất bổ trợ khác liên quan đến định giá, đấu giá, thi hành án và các vấn đề pháp lý phục vụ cho việc thực thi thế chấp quyền sở hữu trí tuệ. Do vậy, cần có cách tiếp cận toàn diện, đa chiều để từ đó đề xuất các giải pháp tháo gỡ phù hợp.
Toàn cảnh cuộc họp
Phát biểu kết luận cuộc họp, ông Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh, vấn đề dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm là vấn đề lớn, phức tạp và có ý nghĩa lâu dài, liên quan trực tiếp đến việc phát triển tài chính dựa trên tài sản trí tuệ. Thực tiễn triển khai cho thấy các ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong hoạt động cấp tín dụng khi thiếu cơ sở pháp lý, cơ chế chia sẻ rủi ro và hệ thống đánh giá, định giá tài sản trí tuệ đủ tin cậy.
Do đó, ông Nguyễn Quốc Hùng đề nghị các bên cần có cách tiếp cận thận trọng nhưng quyết liệt, làm đến cùng. Đồng thời, việc xây dựng cơ chế thí điểm là cần thiết, trên cơ sở có sự tham gia chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan, cơ quan quản lý chuyên môn và hệ thống ngân hàng, nhằm từng bước tháo gỡ vướng mắc và tạo nền tảng cho việc triển khai thực chất.
Ông Lưu Hoàng Long đánh giá cao các ý kiến được chia sẻ tại cuộc họp và bày tỏ quyết tâm sẽ theo đuổi đến cùng để đạt được kết quả cụ thể. Theo Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, cần xây dựng một cơ chế thí điểm phù hợp; trước mắt, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ báo cáo Ban Chỉ đạo Nghị quyết 57-NQ/TW, từ đó đề xuất chính sách ở tầm cao hơn, nhằm mở ra một không gian tăng trưởng mới, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong 10 năm tới.
Ông Lưu Hoàng Long cũng đề nghị các đơn vị, đặc biệt là các ngân hàng, phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ tham gia xây dựng hệ thống đánh giá công nghệ, xếp hạng và định giá tài sản trí tuệ. Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là mô hình áp dụng tại Hàn Quốc, Cục Sở hữu trí sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cơ chế phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời mong muốn Hiệp hội Ngân hàng và các ngân hàng thương mại tích cực đóng góp ý kiến, đề xuất phương án khả thi để tổng hợp, hoàn thiện.

