Địa vị pháp lý, vốn điều lệ và nguyên tắc hoạt động
VAMC là doanh nghiệp đặc thù, tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) thành lập và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu. Vốn điều lệ của VAMC là 5.000 tỷ đồng; việc đầu tư bổ sung vốn thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
VAMC hoạt động nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế, theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận, công khai, minh bạch, hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.
Cơ cấu tổ chức, quản trị
VAMC có trụ sở chính tại Hà Nội, được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố lớn trực thuộc Trung ương sau khi được NHNN chấp thuận. Bộ máy quản lý gồm Hội đồng thành viên (không quá 7 thành viên), Ban kiểm soát (không quá 3 thành viên) và Ban Điều hành gồm Tổng giám đốc, các Phó Tổng giám đốc. Thống đốc NHNN bổ nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng ban và thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc. Người đại diện theo pháp luật của VAMC không bắt buộc phải là đấu giá viên theo quy định pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Phương thức mua nợ xấu
VAMC mua nợ xấu của tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam theo giá trị thị trường hoặc bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB), được chuyển khoản nợ xấu đã mua bằng TPĐB sang mua theo giá trị thị trường. Đáng chú ý, TCTD Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu từ 3% trở lên (hoặc theo quy định của Thống đốc NHNN) bắt buộc phải bán nợ xấu cho VAMC theo kết quả thanh tra, định giá, kiểm toán độc lập. Đối với TCTD liên doanh, TCTD 100% vốn nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC mua nợ xấu theo giá trị thị trường trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ được đánh giá lại.
Cơ chế trái phiếu đặc biệt và trái phiếu mua nợ theo giá thị trường
TPĐB được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bằng VNĐ, lãi suất 0%, mệnh giá bằng giá mua nợ xấu (giá trị ghi sổ dư nợ gốc chưa trả trừ tiền dự phòng cụ thể đã trích lập chưa sử dụng). Thời hạn TPĐB tối đa 5 năm, riêng với TCTD đang thực hiện phương án tái cơ cấu hoặc gặp khó khăn tài chính, thời hạn tối đa không quá 10 năm. TCTD sở hữu TPĐB được dùng để vay tái cấp vốn tại NHNN, hằng năm phải trích lập dự phòng rủi ro đối với TPĐB vào chi phí hoạt động và dùng TPĐB mua lại khoản nợ chưa xử lý xong khi đến hạn.
Đối với trái phiếu mua nợ theo giá trị thị trường, VAMC được phát hành (qua đấu thầu, bảo lãnh, đại lý, bán trực tiếp) mà không bị áp dụng các quy định khắt khe về điều kiện, hồ sơ phát hành như trái phiếu doanh nghiệp thông thường và quy định tỷ lệ huy động vốn áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước. Trái phiếu này do TCTD/chi nhánh ngân hàng nước ngoài nắm giữ được sử dụng để tham gia nghiệp vụ thị trường mở và tái cấp vốn tại NHNN. TCTD bán nợ theo giá thị trường bị lỗ được phân bổ dần khoản chênh lệch vào chi phí hoạt động trong thời hạn tối đa 5 năm.
Quyền hạn xử lý nợ và tài sản bảo đảm
VAMC được thực hiện các hoạt động: đòi nợ, xử lý/bán nợ, tài sản bảo đảm (TSBĐ); cơ cấu lại nợ (điều chỉnh kỳ hạn, giảm/miễn lãi quá hạn, giảm nợ gốc với nợ mua theo giá thị trường); chuyển nợ thành vốn góp/cổ phần; bảo lãnh; tư vấn tái cơ cấu; tổ chức bán đấu giá tài sản; đồng thời được ủy quyền cho TCTD bán nợ thực hiện thu hồi nợ, cơ cấu nợ, quản lý TSBĐ.
VAMC có quyền thu giữ TSBĐ để xử lý, thu hồi nợ theo quy định Luật Các TCTD. UBND và Công an cấp phường/xã nơi tiến hành thu giữ TSBĐ có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự; trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc vắng mặt, đại diện UBND cấp phường/xã tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ. Sau khi thu giữ, tiếp nhận TSBĐ, VAMC có quyền bán đấu giá tài sản mà không cần sự đồng ý của bên bảo đảm (thông báo bằng văn bản trước ít nhất 10 ngày làm việc); nếu đấu giá một lần không thành, VAMC được tiếp tục đấu giá hoặc thỏa thuận bán trực tiếp với bên mua. VAMC kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ chủ nợ của TCTD bán nợ trong tố tụng tòa án và thi hành án, không phải đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm khi mua, bán lại khoản nợ.
Cơ chế tài chính
Đối với nợ mua bằng TPĐB, sau khi trừ chi phí xử lý nợ, TSBĐ và khoản phí VAMC được hưởng theo tỷ lệ do Thống đốc NHNN quy định, toàn bộ số tiền còn lại được hoàn trả cho TCTD bán nợ. Doanh thu của VAMC gồm tiền thu từ thu hồi nợ, bán nợ/TSBĐ, đầu tư tài chính, phí tư vấn, môi giới, đấu giá và các khoản thu theo tỷ lệ quy định. VAMC trích dự phòng rủi ro vào chi phí hoạt động đối với nợ mua theo giá thị trường, không phải trích lập dự phòng đối với nợ mua bằng TPĐB và các khoản phải thu từ TCTD.
Chi tiết Nghị định số 359/2026/NĐ-CP xem tại đây

