Hỗ trợ lãi suất 2%: Cú hích cho dòng vốn xanh tăng tốc
Tín dụng xanh tại Việt Nam đã được triển khai từ khá sớm và đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng

Bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, ngành Ngân hàng đã triển khai tín dụng xanh gần một thập kỷ qua với nhiều định hướng chiến lược. Từ năm 2017, chỉ có 15 TCTD báo cáo dư nợ tín dụng xanh, đến nay con số này đã tăng lên 58 TCTD, cho thấy mức độ tham gia ngày càng sâu rộng và chủ động của các ngân hàng. Theo số liệu của NHNN, đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với cuối năm 2024 và vượt tốc độ tăng trưởng của cả năm 2024. Giai đoạn từ năm 2017 đến tháng 9/2025, tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, cao hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Tuy nhiên, theo đánh giá của NHNN, tỷ trọng tín dụng xanh hiện mới chiếm gần 5% tổng dư nợ toàn hệ thống cho thấy khoảng cách đáng kể giữa tiềm năng và thực tế. Chính vì vậy, các chính sách hỗ trợ mang tính “đòn bẩy”, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ lãi suất từ ngân sách Nhà nước, được kỳ vọng sẽ tạo xung lực mới, thúc đẩy dòng vốn tín dụng xanh trong giai đoạn tới. Cụ thể, theo Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội, từ năm 2026, ngân sách Nhà nước sẽ tham gia hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân vay vốn thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn hoặc áp dụng các tiêu chuẩn Môi trường, xã hội và quản trị (ESG) thông qua Quỹ Phát triển DNNVV và các NHTM.

“Việc có thêm nguồn lực từ ngân sách cho lĩnh vực này mở ra cơ hội lớn để các đơn vị tiếp cận vốn ưu đãi, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng bền vững hơn”, bà Phạm Thị Thanh Tùng nhận định.

Hiện NHNN cũng đang tích cực hoàn thiện dự thảo Nghị định của Chính phủ hướng dẫn cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm đối với các khoản vay thực hiện dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn ESG. Dự thảo đã được Bộ Tư pháp thẩm định và dự kiến trình Chính phủ trong thời gian rất gần.

Song song đó, Bộ Tài chính cũng đang xây dựng Nghị định hỗ trợ lãi suất 2% thông qua Quỹ Phát triển DNNVV, tạo thêm một kênh dẫn vốn ưu đãi cho khu vực kinh tế tư nhân. Một bước tiến quan trọng khác đối với tín dụng xanh là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/ QĐ-TTg, chính thức đưa ra bộ tiêu chí môi trường và danh mục phân loại xanh ở cấp quốc gia. Đây được xem là “mảnh ghép” pháp lý mà hệ thống ngân hàng chờ đợi suốt nhiều năm, giúp tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất trong việc nhận diện và thẩm định dự án xanh.

Theo Quyết định 21, 45 loại hình dự án thuộc 7 lĩnh vực trọng điểm như năng lượng, giao thông, xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, nước và dịch vụ môi trường được công nhận là dự án xanh, đủ điều kiện tiếp cận tín dụng xanh và các ưu đãi liên quan. Quyết định cũng quy định rõ cơ chế xác nhận dự án xanh, có thể do cơ quan quản lý Nhà nước hoặc tổ chức xác nhận độc lập đạt chuẩn quốc tế thực hiện.

Tuy nhiên, nhiều ngân hàng cho rằng Quyết định 21 mới chỉ là điều kiện cần. Thực tế triển khai cho thấy, việc thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về dự án xanh (cập nhật và công bố tập trung) đang khiến các ngân hàng gặp khó trong thống kê, thẩm định và mở rộng tín dụng xanh.

Ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, là một trong những ngân hàng có dư nợ tín dụng xanh lớn nhất hệ thống, Agribank đã tích cực triển khai nhiều gói tín dụng ưu đãi và tích hợp tiêu chí ESG vào quy trình cấp tín dụng nhưng ngân hàng vẫn gặp khó do thiếu dữ liệu chuẩn về phát thải, năng lượng và đa dạng sinh học, cũng như do năng lực ESG của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế. Để khơi thông mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn cho phát triển bền vững, ông Quý cho rằng, cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về phát thải, năng lượng, đa dạng sinh học.

Từ góc độ chuyên gia, PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, để chính sách hỗ trợ lãi suất 2% phát huy hiệu quả, cần đặc biệt chú trọng khâu hướng dẫn và triển khai. Các quy định cần được phổ biến sâu rộng thông qua các chương trình đào tạo dành cho doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức xác nhận độc lập. Đồng thời ban hành hướng dẫn kỹ thuật chi tiết theo từng lĩnh vực sản xuất. Bên cạnh đó, cơ chế xác nhận dự án xanh cần được thiết kế đơn giản, nhanh gọn, nhất là đối với hộ kinh doanh và các dự án quy mô nhỏ. Đặc biệt, việc chi trả hỗ trợ lãi suất phải bảo đảm minh bạch, kịp thời, nếu các khoản hỗ trợ bị chậm thanh toán, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ mất động lực tham gia chương trình.

Theo PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ, khi cơ chế vận hành minh bạch, rủi ro được chia sẻ hợp lý và năng lực của các bên được nâng cao, dòng vốn xanh sẽ thực sự lan tỏa trong nền kinh tế, đóng góp thiết thực vào mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững của Việt Nam.