Chính sách tín dụng linh hoạt mở đường cho doanh nghiệp bứt phá tăng trưởng
PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng phát biểu tại diễn đàn
Kinh tế thế giới nhiều bất định, Việt Nam vẫn giữ vai trò điểm sáng

Phát biểu tại Diễn đàn "Kích hoạt tăng trưởng: Chính sách vi mô đột phá và mục tiêu hai con số" do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ngày 14/7, PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng cho biết, kể từ năm 2020, kinh tế toàn cầu liên tục vận hành trong trạng thái "bất định" dưới tác động của đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị, cạnh tranh công nghệ và những biến động trong chuỗi cung ứng quốc tế. Các báo cáo cập nhật mới nhất của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy triển vọng tăng trưởng năm 2026 kém tích cực hơn năm 2025 khi phần lớn các nền kinh tế lớn đều được dự báo giảm tốc, ngoại trừ Mỹ.

Cùng với triển vọng tăng trưởng suy yếu, các chỉ số phản ánh mức độ bất định kinh tế, rủi ro địa chính trị, giá năng lượng, lương thực và nhiều loại hàng hóa cơ bản vẫn duy trì ở mức cao, tiếp tục tạo áp lực đối với lạm phát và triển vọng phục hồi của kinh tế toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng với mức tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,03%, thuộc nhóm cao nhất thế giới. Tuy nhiên, theo bà Hoàng Anh, nền kinh tế vẫn đối diện một số thách thức cần được theo dõi chặt chẽ, trong đó có áp lực lạm phát duy trì trên 4% và những diễn biến mới của cán cân thương mại.

Đáng chú ý, sau nhiều năm liên tục xuất siêu, 6 tháng đầu năm nay Việt Nam ghi nhận nhập siêu khoảng 16,65 tỷ USD. Dù diễn biến này có thể tạo sức ép nhất định lên tỷ giá, dự trữ ngoại hối và cán cân thanh toán, song cần nhìn nhận đầy đủ bản chất của dòng thương mại để đánh giá đúng tác động đối với nền kinh tế.

Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, hơn 90% kim ngạch nhập khẩu hiện nay là nguyên vật liệu, máy móc và thiết bị phục vụ sản xuất. Điều này phản ánh doanh nghiệp đang gia tăng nhập khẩu đầu vào nhằm mở rộng hoạt động sản xuất, chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới. Đây là tín hiệu tích cực đối với triển vọng tăng trưởng trung và dài hạn.

Mở rộng dư địa tín dụng để hỗ trợ doanh nghiệp

Theo đánh giá của PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, xuyên suốt thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm giữ vững ổn định kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho tăng trưởng bền vững.

Trong năm 2025, ngành ngân hàng triển khai hàng loạt chương trình tín dụng ưu đãi hướng tới các lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế. Nổi bật là gói tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn và nông, lâm, thủy sản với quy mô hơn 100.000 tỷ đồng trong năm 2025, nằm trong tổng quy mô 185.000 tỷ đồng của toàn chương trình. Các khoản vay được áp dụng mức lãi suất thấp hơn thị trường từ 1-2%.

Đến nay, hệ thống ngân hàng thương mại đã giải ngân lũy kế khoảng 168.000 tỷ đồng cho khoảng 52.000 lượt khách hàng, tương đương 91% quy mô chương trình. Song song với đó là chương trình tín dụng phục vụ liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô không giới hạn và lãi suất thấp hơn thị trường 1%.

Ngân hàng đẩy mạnh cho vay tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao

Ngoài lĩnh vực nông nghiệp, nguồn vốn ưu đãi cũng được dành cho nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo chung cư cũ, người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội, cùng các dự án hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược. Đồng thời, nhiều chương trình cơ cấu nợ, giảm lãi suất và hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai cũng được triển khai nhằm giúp doanh nghiệp sớm phục hồi sản xuất.

Bước sang năm 2026, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì lãi suất điều hành, đồng thời giảm lãi suất tiền gửi từ 0,1-0,5%, nhất là ở các kỳ hạn dài, qua đó tạo nền tảng kéo giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

Bên cạnh chính sách lãi suất, ngành ngân hàng còn triển khai nhiều giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng vốn. Trong đó có việc mở rộng cấp tín dụng bằng phương thức điện tử, thúc đẩy chuyển đổi số, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong lĩnh vực ngân hàng và điều chỉnh các quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn theo hướng linh hoạt hơn.

Đáng chú ý, tỷ lệ tối đa sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn được điều chỉnh từ 30% lên 40%, tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, quy định về tỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi (LDR) cũng được điều chỉnh theo hướng cho phép tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng nguồn vốn huy động, góp phần nâng cao năng lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.

Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, các cơ chế này sẽ góp phần tháo gỡ điểm nghẽn vốn cho các dự án động lực, song không đồng nghĩa với việc nới lỏng tiêu chuẩn cho vay. Các ngân hàng thương mại vẫn phải thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định, đánh giá rủi ro và kiểm soát chất lượng tín dụng.

Song song với đó, dòng vốn tiếp tục được ưu tiên cho sản xuất, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng. Để triển khai hiệu quả Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ chính sách hỗ trợ lãi suất 2% đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh thực hiện các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và đáp ứng các tiêu chuẩn ESG.

Đáng chú ý, gói tín dụng 500.000 tỷ đồng dành cho đầu tư hạ tầng và công nghệ số cùng các chương trình ưu tiên vốn cho doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Theo PGS.TS Phạm Thị Hoàng Anh, để tạo dư địa cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới, bên cạnh việc điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các rào cản thể chế, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán theo hướng minh bạch, an toàn; đồng thời thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cùng với việc phát huy vai trò của thị trường trong nước, mở rộng xuất khẩu và gia tăng giá trị sản phẩm, những giải pháp này sẽ tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững trong giai đoạn mới.