Thứ sáu, 14 Tháng 5 2021
TIN MỚI
Kinh tế EAP phục hồi nhưng không đồng đều

Kinh tế EAP phục hồi nhưng không đồng đều

Trong báo cáo cp nht gn đây, Ngân hàng Thế gii (WB) nhn đnh, kinh tế các nước đang phát trin Đông Á - Thái Bình Dương (EAP) tiếp tc phc hi, nhưng vi tc đ không đng đu, cho đến khi thế gii đy lùi được đi dch.

Báo cáo nêu rõ, sau mt năm đi dch Covid-19 bùng phát, thế gii vn cht vt đi phó vi cuc khng hong này. Nguyên nhân ch yếu là do s xut hin ca virus corona biến th mi vi kh năng kháng thuc rt cao. Din biến khó lường này đt ra nhng thách thc mi trong vic khng chế đi dch, khi s ca nhim tiếp tc thiết lp đnh mi.

Tăng trưởng kinh tế ti mt s nước EAP (% so vi năm trước)

  2019 2020 2021 2022 2023
 Các nước đang phát triển tại EAP 5,8 1,2 7,4 5,4 5,3
 Không kể Trung Quốc 4,8 -3,7 4,4 5,1 5,1
 ASEAN 5 4,7 -3,8 4,8 5,1 5,1
 Các quốc đảo Thái Bình Dương 0,9 -11,3 1,0 6,2 5,3
 Trung Quốc 6,0 2,3 8,1 5,4 5,3
  Indonesia 5,0 -2,1 4,4 5,0 5,1
 Thái Lan 2,4 -6,1 3,4 4,7 3,9
 Malaysia 4,3 -5,6 6,0 4,2 4,4
 Philippines 6,0 -9,5 5,5 6,3 6,2
 Việt Nam 7,0 2,9 6,6 6,5 6,5
 Myanmar 6,8 1,7 -10,0 - -
 Campuchia 7,1 -3,1 4,0 5,2 5,2
 Papua New Guinea 5,9 -3,8 3,5 4,2 2,4
 Mông Cổ 5,0 -5,4 6,8 7,2 7,1
 Lào PDR 5,5 0,4 4,0 4,6 4,7
 Fiji -0,4 -19,0 2,6 8,2 6,9
 Quần đảo Solomon 1,2 -5,0 2,0 4,5 4,3
 Timor-Leste 1,8 -7,3 2,9 3,0 2,6
 Samoa 3,5 -3,5 -7,7 5,6 4,9
 Tonga 0,7 -1,5 -3,0 2,3 2,8
 Micronesia, Fed.Sts. 1,2 -1,5 -3,5 2,5 1,0
 Kiribati 3,9 -1,9 3,0 2,6 -
 Palau -4,2 -10,0 -4,0 12,0 6,0
 Quần đảo Marshall 6,6 -4,5 -1,0 3,0 2,0
 Nauru 1,0 0,7 1,3 0,9 -
 Tuvalu 4,1 -0,5 3,0 4,0 -

Nguồn: WB tháng 4/2021

Tại EAP, hoạt động kinh tế tại nhiều nước bắt đầu phục hồi từ giữa năm 2020, sau khi sụt giảm trong những tháng đầu năm. Tuy nhiên, chỉ Trung Quốc và Việt Nam phục hồi theo hình chữ V với GDP tăng cao hơn so với trước khi xảy ra đại dịch, hầu hết những quốc gia còn lại chưa thể phục hồi hoàn toàn cả về tổng sản lượng và động lực tăng trưởng. Đến cuối năm 2020, bốn nền kinh tế chủ chốt khác đã phục hồi nhưng vẫn thấp hơn 5% so với tốc độ tăng trưởng trung bình trước đại dịch (chênh lệch thấp nhất 2,2% tại Indonesia, cao nhất 8,4% tại Philippines). Tại một số quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương, hoạt động kinh tế bị thu hẹp nghiêm trọng và kéo dài, tăng trưởng GDP tại Fiji, Palau, và Vanuatu vẫn thấp quá 10% so với trước khi bước vào đại dịch.

Tại mỗi quốc gia, yếu tố quyết định tăng trưởng phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của các biện pháp khống chế đại dịch, khả năng tận dụng các cơ hội để phục hồi hoạt động thương mại quốc tế, năng lực của Chính phủ trong việc cung cấp hỗ trợ tài khóa và tiền tệ. Liên quan đến vấn đề này, những quốc gia có GDP giảm sâu thường có tỷ lệ lây nhiễm Covid-19 và tử vong ở mức cao. Hiệu quả kinh tế cũng chịu tác động của những yếu tố đặc thù quốc gia, bao gồm thiên tai (Fiji, Tonga, Vanuatu, Thái Lan, Philippines); sự tấn công của một số dịch bệnh khác (Samoa); bất ổn chính trị (Malaysia, Myanmar, Papua New Guinea, Thái Lan, Timor-Leste).

Trong tương lai, cú sốc Covid-19 sẽ tác động đến hiệu quả kinh tế. Một số quốc gia thành công trong việc kiểm soát Covid-19 sẽ sớm phục hồi các hoạt động kinh tế trong nước, nhưng tình trạng lây nhiễm dai dẳng tại những nước khác sẽ cản trở quá trình phục hồi này cho đến khi việc tiêm chủng vắc xin được tiến hành rộng khắp thế giới. Kinh tế toàn cầu phục hồi, phản ánh phần nào tác động của chương trình hỗ trợ tài khóa 1,9 nghìn tỷ USD, góp phần phục hồi thương mại và thúc đẩy GDP với mức tăng trưởng trung bình tới 1%, riêng hoạt động du lịch đến năm 2023 vẫn thấp hơn thời điểm trước khi xảy ra đại dịch và cản trở tiến trình phục hồi kinh tế tại những quốc gia phụ thuộc vào lĩnh vực kinh doanh này.

Mặc dù điều kiện tài chính toàn cầu vẫn thuận lợi, bảng cân đối kế toán mong manh của các doanh nghiệp và ngân hàng cũng như bất ổn kéo dài trên toàn cầu sẽ cản trở các hoạt động đầu tư. Trong ngữ cảnh như vậy, chỉ Trung Quốc và Việt Nam được dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng cao lần lượt 8,1% và 6,6% trong năm 2021, những quốc gia còn lại trong khu vực chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình 4,4% trong năm nay. Đến cuối năm 2021, GDP tại Indonesia và Malaysia được dự báo sẽ phục hồi mức tăng trưởng trước khi xảy ra đại dịch, trong khi Thái Lan và Philippines chưa thể đạt mục tiêu này vào cuối năm 2022. Trong nhóm những quốc gia nhỏ, kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi chậm chạp tại những quốc đảo phụ thuộc vào du lịch; khoảng ½ số quốc gia chỉ đạt mức tăng trưởng âm, mặc dù không bị đại dịch tấn công. Nhờ kinh tế Trung Quốc tăng cao, GDP tại EAP được kỳ vọng sẽ tăng tốc từ mức tăng trưởng 1,2% trong năm 2020 lên 7,4% trong năm nay.

Báo cáo đánh giá, mức độ rủi ro có vẻ cân bằng hơn so với trước đây. Về mặt tích cực, cao trào sản xuất vắc xin và phòng ngừa bệnh dịch, cùng với các nỗ lực cải cách chính sách và sự lan tỏa công nghệ mới, có thể sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm một số thiệt hại vật chất. Tuy nhiên, sự chậm trễ trong việc phân phối vắc xin sẽ đẩy số ca nhiễm Covid-19 tăng cao và các biện pháp giãn cách xã hội có thể làm giảm khoảng 1% GDP. Nỗi đau kinh tế kéo dài có thể xói mòn bảng cân đối kế toán của các đơn vị kinh tế và tài chính, trầm trọng thêm gánh nặng tài khóa đối với các khoản nợ vay, có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính tại một số quốc gia. Cho tới nay, các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ chưa có tiền lệ tại các nền kinh tế chủ chốt vẫn giúp các nước tránh được những bất ổn về tài chính.

Đại dịch và tình trạng đóng cửa nền kinh tế cũng như thiếu đồng đều trong việc tiếp cận trợ cấp và công nghệ cũng có thể làm gia tăng bất bình đẳng. Thứ nhất, người nghèo sẽ chịu tổn hại khốc liệt hơn về vật chất và nguồn nhân lực do thiếu lương thực và cơ hội học tập. Thứ hai, phụ nữ chịu thiệt thòi nhiều hơn nam giới. Thứ ba, doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ sẽ chịu tổn thất nhiều hơn so với nhóm doanh nghiệp lớn.

Khủng hoảng Covid gây khó khăn cho các nhà tạo lập chính sách tại EAP trong việc đưa ra các quyết định chính sách, nhất là giữa bảo vệ mạng sống và phương kế sinh nhai. Khủng hoảng Covid-19 gây khó khăn cho các nhà tạo lập chính sách tại EAP trong việc đưa ra các lựa chọn chính sách, nhất là giữa bảo vệ mạng sống và phương kế sinh nhai.

Hai nguyên nhân khiến sự chạy đua giữa tốc độ lây nhiễm Covid-19 và tiêm chủng vắc xin không thể chấm dứt đại dịch một cách nhanh chóng bao gồm: (i) Mặc dù lượng vắc xin có thể đủ cung cấp cho tất cả những người trưởng thành trên thế giới vào cuối năm 2021, song tình trạng bất bình đẳng trong việc tìm kiếm và phân bổ vắc xin cho thấy, hầu hết các quốc gia không thể đạt mục tiêu miễn dịch cộng đồng. Trong kịch bản lạc quan nhất, đến cuối năm 2021, tỷ lệ tiêm chủng vắc xin sẽ đạt 81% tại các nước thu nhập cao và 55% tại các nước đang phát triển. (ii) Số ca nhiễm mới và khả năng kháng thuốc làm gia tăng các mối lo ngại có thể trầm trọng thêm hiệu quả của vắc xin và tăng thêm số người cần được tiêm chủng vắc xin.

Cũng như cảnh báo trước đây, Covid-19 có thể gây tác hại lâu dài đến tăng trưởng kinh tế. Nợ nần tăng cao cùng với xu hướng gia tăng bất ổn có thể cản trở các hoạt động đầu tư, đặt ra rủi ro bất ổn kinh tế. Ốm đau, thiếu lương thực, thất nghiệp, và trường học đóng cửa có thể xói mòn nguồn nhân lực và thu nhập. Chậm trễ trong việc tái phân bổ các nguồn lực cho các doanh nghiệp và khu vực kinh tế hậu Covid-19, đầu tư thấp tại các nước giàu và nghèo có thể cản trở năng suất lao động. Nếu không xử lý được những vấn đề này, tăng trưởng GDP trong thập kỷ tới có thể thấp hơn trước đại dịch tới 1,8% (ngoại trừ Trung Quốc), mặc dù có sự hỗ trợ của công nghệ mới.

Trong bối cảnh như vậy, việc cung cấp các hỗ trợ tài khóa được kỳ vọng sẽ đóng góp vào ba mục đích (giảm nhẹ khó khăn, phục hồi kinh tế, và tăng trưởng), nhưng phải đảm bảo ổn định chính sách tài khóa. Cụ thể là, cần giảm nhẹ khó khăn theo hướng đảm bảo chi tiêu hàng ngày của các hộ gia đình và tránh để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản; để phục hồi kinh tế, cần có các gói kích thích tài khóa do các cú sốc Covid-19 đang đe dọa phải đóng cửa nền kinh tế xuống dưới ngưỡng cân bằng về lao động; tăng trưởng đòi hỏi phải tăng đầu tư công, cả về hạ tầng phần cứng và phần mềm.

Khi các Chính phủ cam kết cung cấp các gói hỗ trợ tài khóa tương đương 10% GDP vào năm 2020, nợ công tăng trung bình trên 7% GDP. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất rất thấp so với tốc độ tăng trưởng kinh tế tại EAP. Nghĩa là, mặc dù nợ sơ cấp ở mức cao, nhưng cán cân nợ công có thể vẫn an toàn. Tuy nhiên, không vì thế mà các Chính phủ cứ mở rộng vay nợ một cách thiếu thận trọng. Nguyên nhân là do, lãi suất không phải là yếu tố ngoại sinh, mà rất nhạy cảm với thâm hụt quá cao về tài khóa và nợ công, thị trường có thể rối loạn do những tổn thương giống như nợ ngoại tệ, hệ thống tài chính mong manh, sự lệ thuộc về hàng hóa; dịch vụ nợ ở mức cao và nguồn thu đạt thấp có thể cản trở đầu tư công, ảnh hưởng xấu đến tiến trình phục hồi và tăng trưởng kinh tế. Vì thế, các nước phải đảm bảo sự cân xứng khi cân đối nhu cầu hỗ trợ kinh tế với rủi ro có thể xảy ra trong tương lai.

Các nước EAP có thể tiếp tục sử dụng chính sách tiền tệ để chia sẻ gánh nặng trong việc hỗ trợ nền kinh tế, do lãi suất đang ở mức thực dương, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương đối cao, và lạm phát thấp.

Theo SBV

Xem 253 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng