Thứ năm, 29 Tháng 6 2017
TIN MỚI
Tổ chức trực thuộc

Tổ chức trực thuộc

HỘI THẺ NGÂN HÀNG VIỆT NAM 20 NĂM  XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1996 - 2016)

Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam (HTNH) là hội nghề nghiệp trực thuộc Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 09/HHNH-QĐ ngày 15/08/1996 của Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, trên cơ sở đề xuất của 4 thành viên sáng lập là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Chohung Vina Bank (nay là Shinhan Bank Việt Nam). Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, đến nay, HTNH đã có 40 thành viên, chiếm 99% thị phần thẻ, gồm hầu hết các ngân hàng tham gia kinh doanh thẻ ở Việt Nam, trong đó có Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas).

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, mặc dù còn có những khó khăn do diễn biến phức tạp của tình hình tài chính - tiền tệ và kinh tế - xã hội, tác động đến hoạt động của các ngân hàng, nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, và sự đoàn kết, nỗ lực của các ngân hàng thành viên, về cơ bản, HTNH đã phát huy được vai trò của tổ chức hội nghề nghiệp trong việc liên kết, hỗ trợ các thành viên cùng hợp tác và phát triển; hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh,  góp phần quan trọng thúc đẩy hoạt động của các NHTM phát triển ổn định và bền vững, đồng thời góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt theo định hướng của Chính phủ và NHNN. Đến nay thị trường thẻ Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận và đồng đều về tất cả các mặt hoạt động phát hành, thanh toán, sử dụng thẻ và phát triển mạng lưới.

I. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC THÀNH VIÊN HỘI THẺ NGÂN HÀNG VIỆT NAM

1. Giai đoạn 1996-2001:

Trong giai đoạn 1996-2001, thị trường thẻ Việt Nam còn sơ khai, nhận thức của người dân về thanh toán thẻ còn hạn chế nên các sản phẩm thẻ chủ yếu chỉ đáp ứng nhu cầu của tầng lớp dân cư có thu nhập cao và phần lớn chỉ là thẻ quốc tế được sử dụng khi mua sắm hàng hoá dịch vụ ở nước ngoài. Vào thời gian đó ATM và thẻ ATM là những thứ mới lạ đối với thị trường Việt Nam. Và trong khoảng thời gian 5 năm 1996-2000 chỉ có một vài ngân hàng lớn thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm dịch vụ ATM. Vào thời kỳ này số lượng ATM ở Việt nam còn khá ít, tổng cộng chỉ vài chục chiếc. Thẻ ATM phát hành chủ yếu cho cán bộ ngân hàng là chính. Ngoài thẻ ATM một số ngân hàng có dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng quốc tế (Visa, MasterCard v.v.) nhưng đều thực hiện bằng phương pháp thủ công. Smart card (thẻ thông minh), một dạng ví điện tử cũng được số ít ngân hàng thử nghiệm trong phạm vi rất nhỏ. Như vậy, có thể nói giai đoạn 1996-2000 là thời kỳ mở đầu, chủ yếu nghiên cứu, tiếp cận thị trường thanh toán thẻ ở Việt Nam.

2. Giai đoạn 2001-2005:

Từ năm 2001 đến năm 2005 chúng ta đã được chứng kiến sự phát triển vượt bậc của thị trường thẻ thanh toán. Nhiều ngân hàng, kể cả các NHTM Nhà nước và các NHTM cổ phần đã triển khai các dịch vụ thanh toán thẻ với việc ứng dụng công nghệ thông tin, trang bị hệ thống công nghệ thẻ hiện đại và phát hành nhiều loại thẻ khác nhau. Vào thời điểm cuối năm 2005 ở Việt Nam đã có khoảng 2,7 triệu thẻ thanh toán các loại được phát hành, có khoảng 1.700 máy ATM và 9.000 điểm chấp nhận thẻ (POS) đã được lắp đặt sử dụng. Các loại thẻ thanh toán được phát hành và sử dụng khá phong phú, bao gồm: thẻ ATM, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ nội địa, thẻ quốc tế, thẻ tiền mặt... Tốc độ phát triển thẻ thanh toán trong thời kỳ này rất cao, thường xuyên tăng từ trên 200%/năm. Các dịch vụ thanh toán dựa trên thẻ cũng ngày được tăng cường. Nó không chỉ dừng ở dịch vụ rút tiền mặt trên ATM mà đã mở rộng ra các dịch vụ chuyển khoản, thanh toán hàng hóa, thanh toán hóa đơn, mua vé, thanh toán cước phí ... Nhiều ngân hàng đã kết nối thực hiện thanh toán và phát hành thẻ quốc tế (Visa, MasterCard, Amex, JCB v.v.).

3. Giai đoạn 2005-2010:

Từ năm 2006 thị trường thẻ thanh toán Việt Nam tiếp tục phát triển với tốc độ cao. Tính đến cuối năm 2006 số thẻ phát hành tại Việt Nam đạt 3,5 triệu thẻ, khoảng 2.700 ATM và 14.000 POS được lắp đặt sử dụng. Nhiều Ngân hàng tích cực ứng dụng công nghệ hiện đại, mạnh dạn đầu tư phát triển dịch vụ thanh toán thẻ. Các dịch vụ thanh toán thẻ đã trở nên phổ biến hơn, gần gũi, thân thiện hơn với nhiều người dân.

Tuy nhiên, dịch vụ thẻ thực sự sôi động, bắt đầu có chiều sâu khi Chính phủ ban hành Quyết định số 291/2006/ TTg về triển khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006-2011 và đặc biệt sự ra đời của quyết định số 20/2007/NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam điều chỉnh các quy định về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Điều này đã góp phần tạo một hành lang pháp lý rất quan trọng giúp thị trường có sự phát triển vượt bậc về hoạt động thanh toán và phát hành thẻ, số lượng các ngân hàng tham gia cung ứng dịch vụ thẻ ngày càng gia tăng với việc cho ra đời hàng loạt các sản phẩm thẻ tương đối hiện đại, nhiều tính năng, tiện ích đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

Nếu như năm 2005, thị trường thẻ Việt Nam mới có hơn 20 tổ chức phát hành thẻ, số lượng thẻ đạt khoảng 2,7 triệu thẻ, thì đến cuối tháng 12/2010 đã có 49 tổ chức phát hành thẻ với tổng cộng gần 32 triệu thẻ với hơn 200 thương hiệu thẻ khác nhau. Các ngân hàng cũng tăng cường mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ, đến cuối tháng 12/2010, số ATM đạt khoảng 11.500 máy và POS đạt khoảng 52.000 máy (năm 2005 mới có 1.700 máy ATM và 9.000 máy POS). Việc chia sẻ mạng lưới và đẩy mạnh kết nối liên thông hệ thống ATM, POS cũng được tích cực thực hiện đã không chỉ góp phần gia tăng thuận tiện cho chủ thẻ mà còn góp phần nâng cao hiệu quả cho hoạt động thẻ, góp phần quan trọng trong việc gia tăng doanh số sử dụng thẻ các loại với mức tăng trưởng kỷ lục qua các năm. Nếu như năm 2005, doanh số sử dụng thẻ các loại mới đạt khoảng 5.000 tỷ VND thì đến năm 2010, doanh số đã tăng lên trên 600.000 tỷ VND.

4. Giai đoạn 2011-2015:

4.1 Hoạt động phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ:

Đến năm 2011, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trên cơ sở định hướng, hỗ trợ của Chính phủ theo Quyết định số 2453/QĐ-TTg ngày 27/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có những chuyển biến tích cực; tạo sự chuyển biến mới trong nhận thức và thói quen của người dân, doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2011, hệ thống ngân hàng đã cung cấp khoảng 42 triệu thẻ và tiếp tục tăng trưởng ổn định đến cuối năm 2015, số thẻ phát hành đạt 91 triệu thẻ, trong đó các thành viên của Hội thẻ đã phát hành trên 90,5 triệu thẻ (chiếm 99,28% thị phần).

Hoi the Ngan hang Viet Nam 1

Thẻ nội địa luôn chiếm khoảng 90% tổng lượng thẻ phát hành toàn thị trường. Tính đến 31/12/2015, toàn thị trường có 40/51 NH phát hành thẻ nội địa, với số lượng thẻ đạt hơn 81,85 triệu thẻ, trong đó chủ yếu là thẻ ghi nợ. Đối với thẻ trả trước nội địa, đến 31/12/2015 có 14/51 NH phát hành loại thẻ này, với tổng số thẻ phát hành đạt hơn 2 triệu thẻ, chỉ chiếm 2,26% thị phần thẻ toàn thị trường. Thẻ tín dụng nội địa có 8/51 NH phát hành với 256.825 thẻ trên toàn thị trường.

Hoi the Ngan hang Viet Nam 2

Về thẻ quốc tế, đến 31/12/2015 có 40/51 NH phát hành thẻ quốc tế, trong đó có 32 NH (26 NHTV) phát hành thẻ ghi nợ quốc tế, 37 NH (32 NHTV) phát hành thẻ tín dụng quốc tế, và 29 NH (25 NHTV) phát hành cả 2 loại thẻ trên.

Tổng số thẻ quốc tế tích luỹ toàn thị trường đến 31/12/2015 đạt trên 9,24 triệu thẻ, tăng 16,23% so với năm 2014, trong đó nhóm NH nước ngoài phát hành hơn 645.000 thẻ, chiếm khoảng 6,97% thị phần.

Hoi the Ngan hang Viet Nam 3

Cùng với sự gia tăng số lượng thẻ là doanh số sử dụng và doanh số thanh toán thẻ cũng liên tục tăng trưởng không ngừng. Năm 2011, doanh số sử dụng thẻ là 724.494 tỷ VND và doanh số thanh toán là 895.675 tỷ VND thì năm 2015 các con số này lần lượt là 1.637.730 tỷ VND và 1.685.320 tỷ VND, tăng trưởng lần lượt là 126% và 88%.

Hoi the Ngan hang Viet Nam 4

Bảng: Doanh số sử dụng và doanh số thanh toán thẻ của các NHTV Hội thẻ từ 2011-2015 (đơn vị: tỷ VND)

Hoi the Ngan hang Viet Nam 5

4.2 Phát triển mạng lưới thanh toán thẻ

Được sự chỉ đạo và quan tâm sâu sắc của Chính phủ, NHNN, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thanh toán thẻ được các ngân hàng thương mại chú trọng nâng cấp, đầu tư. Kênh giao dịch tự động ATM tăng trưởng nhẹ do các ngân hàng chuyển hướng tập trung phát triển mạng lưới đơn vị chấp nhận thẻ POS, đến 31/12/2015, toàn thị trường đã có 16.573 máy ATM và 217.470 máy POS, tăng trưởng lần lượt là 23% và 181% so với năm 2011.

Hoi the Ngan hang Viet Nam 6

Hưởng ứng Kế hoạch tổng thể phát triển thanh toán thẻ qua POS giai đoạn 2014 - 2015 của Ngân hàng Nhà nước, nhất là phát triển thanh toán POS trên thiết bị di động (mPOS) để nâng cao số lượng, giá trị giao dịch thanh toán, đưa thanh toán qua POS trở thành thói quen của chủ thẻ. Các ngân hàng cũng chú trọng tới các loại sản phẩm, dịch vụ hiện đại, tiện lợi hơn như ngân hàng điện tử, ngân hàng tại nhà, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động, ví điện tử…

4.3 Nâng cao chất lượng dịch vụ

Trong giai đoạn này, nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ luôn là công tác trọng tâm của các NH để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thẻ. Các NH tập trung thực hiện nhiều chương trình, biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ với các kết quả tích cực. Có thể kể đến như sau:

- Nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống ATM: Việc theo dõi, thực hiện tiếp quỹ, bảo trì, bảo dưỡng ATM đã được các ngân hàng thực hiện thường xuyên hơn; thời gian khắc phục sự cố, xử lý và trả lời tra soát khiếu nại được rút ngắn hơn; mạng lưới ATM phân bổ hợp lý hơn; giảm bớt tình trạng quá tải tại ATM... Để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, đặc biệt là trong thời gian cao điểm (như các ngày lễ tết, các kỳ trả lương...), nhiều ngân hàng đã thành lập bộ phận chuyên trách để hướng dẫn, chăm sóc khách hàng và kiểm tra, giám sát ATM; tăng công suất bộ phận phục vụ, tiếp quỹ lên nhiều lần; đồng thời tổ chức thêm điểm phát lương tại quầy gần nơi đặt ATM để khách hàng giao dịch trực tiếp, triển khai ATM lưu động... Bên cạnh đó, các ngân hàng thường xuyên theo dõi, định kỳ thực hiện đánh giá hiệu quả hoạt động của các ATM để phát hiện ATM quá tải cũng như ATM hoạt động chưa hiệu quả, từ đó có biện pháp điều chuyển, sắp xếp vị trí lắp đặt ATM hiệu quả, an toàn, thuận tiện hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

- Chú trọng công tác tra soát, khiếu nại: Theo báo cáo của một số NH, tỷ lệ tra soát khiếu nại trên tổng số giao dịch rút tiền tại hệ thống ATM tại một số NH có xu hướng ngày càng giảm qua các năm, hiện tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 0,1%.

- Tiếp tục nâng cao giá trị gia tăng cho thẻ: tích cực nghiên cứu và triển khai nhiều tính năng, tiện ích mới, hiện đại nhằm nâng cao chất lượng cũng như phạm vi phục vụ khách hàng. Các NH khai thác các phân khúc thẻ khác nhau để đổi mới và làm hấp dẫn hơn cho chủ thẻ… Ngoài ra, chủ thẻ có thể sử dụng các dịch vụ tiện ích mà NH đang cung cấp trên cơ sở tài khoản tiền gửi thanh toán như thanh toán trực tuyến, dịch vụ tiết kiệm tự động, dịch vụ truy vấn thông tin tài khoản từ xa, đăng ký chế độ VIP dành cho khách hàng thực hiện các giao dịch thanh toán có giá trị lớn trong một thời gian nhất định mà không phải gọi đến NH; kích hoạt thẻ khi làm thẻ mới, gia hạn thẻ hay thay thẻ mà không cần phải gọi đến NH, tặng các loại bảo hiểm khi phát hành thẻ. Các khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử có thể thanh toán hóa đơn cho hàng loạt các dịch vụ như tiền điện, tiền nước, truyền hình cáp, điện thoại các loại, cước Internet, vé máy bay và rất nhiều các dịch vụ khác. Chất lượng dịch vụ khách hàng được nâng cao, thị trường thẻ VN phát triển theo đúng định hướng chất lượng, chiều sâu bên cạnh việc mở rộng về quy mô, số lượng.

4.4 Hoạt động chuyển mạch thẻ

- Thành viên hệ thống và hoạt động kết nối chuyển mạch thẻ nội địa: Tính đến 2015, Napas đã kết nối liên thông ATM của 43 Ngân hàng thành viên và kết nối liên thông POS của 31 Ngân hàng thành viên. Trong đó, hoạt động kết nối ATM có số lượng giao giao dịch là 156.894.415 giao dịch với giá trị giao dịch đạt 183.389 tỷ đồng, tăng trưởng lần lượt là 54,8% và 63,4% so với năm 2014.  Hoạt động kết nối liên thông hệ thống POS có số lượng giao dịch là 6.146.929 giao dịch với giá trị giao dịch đạt 11.638 tỷ đồng, tăng trưởng lần lượt là 120% và 84,7% so với năm 2014.

- Hoạt động kết nối với các tổ chức chuyển mạch thẻ nước ngoài: Trong năm 2015, Napas đã cung cấp dịch vụ kết nối mạng thanh toán thẻ quốc tế với UPI - Trung Quốc, KFTC - Hàn Quốc và UC- Liên Bang Nga cho 15 Ngân hàng và đã chuyển đổi chấp nhận thẻ EMV của UPI cho Agribank, BIDV và Vietinbank.

- Hoạt động thanh toán thẻ trực tuyến (nội địa, quốc tế): Tính đến hết năm 2015, Napas đã cung cấp dịch vụ cho 27 ngân hàng và 212 doanh nghiệp thương mại điện tử.

- Dịch vụ chuyển tiền điện tử IBFT: Dịch vụ chuyển tiền điện tử của Napas hiện hỗ trợ mô hình chuyển tới số thẻ và số tài khoản, cung cấp dịch vụ cho 37 Ngân hàng .

- Hoạt động thanh toán hóa đơn điện tử: Dịch vụ đã được Napas cung cấp dịch vụ cho 23 Ngân hàng và 15 Nhà cung cấp dịch vụ lớn trong các lĩnh vực viễn thông, hàng không, tài chính.

- Tình hình tra soát khiếu nại: Các hoạt động tra soát khiếu nại vẫn được tuân thủ theo các thông tư hướng dẫn và quy định của Ngân hàng Nhà nước, đảm báo chất lượng trả lời các khiếu nại đối với các Ngân hàng thành viên cũng như các tổ chức chuyển mạch khác, tỷ lệ giao dịch tra soát khiếu nại trong năm 2015 chiếm 0,08% số lượng giao dịch thực hiện trên toàn hệ thống.

Tóm lại: Nhờ hoạt động thẻ của thành viên Hội thẻ phát triển, thời gian qua, nhiều người dân đã dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ ngân hàng, các NHTM có điều kiện thúc đẩy các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, mở rộng chi nhánh, mở thêm được nhiều dịch vụ mới, qua đó giúp ngân hàng huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Đây là bước đột phá mà dịch vụ thẻ mang lại cho hoạt động của các NHTM, góp phần quan trọng thúc đẩy hoạt động của các NHTM phát triển ổn định và bền vững, đồng thời góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt theo định hướng của Chính phủ và NHNN.

II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI THẺ NGÂN HÀNG VIỆT NAM

Là một trong những Hội nghề nghiệp được thành lập sớm ở Việt Nam, trong 20 năm qua Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam đã dần khẳng định vai trò của tổ chức hội nghề nghiệp, hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển nghiệp vụ kinh doanh thẻ ngân hàng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn cho Hội viên.

1. Hỗ trợ hoạt động kinh doanh thẻ của các tổ chức thành viên

HTNH đã phát huy vai trò là nơi các ngân hàng thành viên cùng thống nhất đưa ra những chính sách chung nhằm định hướng phát triển cho thị trường thẻ Việt Nam. Nhiều định hướng đã được thực hiện và chứng minh được sự đúng đắn trong thực tế như: định hướng chuyển đổi phát triển từ thẻ tín dụng sang thẻ ghi nợ để phù hợp với trình độ phát triển và hạ tầng cơ sở thông tin tại Việt Nam; chú trọng phát triển thẻ nội địa song song với thẻ quốc tế, đưa thẻ đến mọi tầng lớp dân cư; cân đối giữa phát hành thẻ và phát triển hệ thống chấp nhận thẻ; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động thẻ; đa dạng hóa các sản phẩm thẻ và các giá trị sử dụng gia tăng đối với các sản phẩm thẻ; định hướng liên minh liên kết phát triển thị trường thẻ và kết nối hệ thống mạng ATM của các ngân hàng; định hướng vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động thẻ và yêu cầu chia sẻ thông tin giữa các ngân hàng để cảnh báo và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thẻ...

2. Làm cầu nối giữa các thành viên với các cơ quan quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích của các tổ chức thành viên:

Luôn bám sát hoạt động của các thành viên để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, Hội thẻ đã có nhiều văn bản kiến nghị Ngân hàng Nhà nước và các Bộ, ngành liên quan nhằm xử lý các vướng mắc, khó khăn về cơ chế chính sách trong hoạt động thẻ và đưa ra các giải pháp đảm bảo an toàn cho các máy ATM như: kiến nghị giải pháp đảm bảo an toàn trong việc sử dụng máy ATM gửi NHNN và Bộ Công an; kiến nghị NHNN ban hành quy định về trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động thẻ; kiến nghị NHNN sửa đổi những bất cập của các quy định liên quan đến Thẻ ghi nợ và mở tài khoản tiền gửi thanh toán; đề xuất, kiến nghị Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương để điều chỉnh Hợp đồng mẫu liên quan phát hành thẻ và ngân hàng điện tử của các NH hiện nay phù hợp với pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thực tiễn hoạt động của các NHTM; báo cáo, đề xuất NHNN về chính sách phí thanh toán thẻ nội địa tại đơn vị chấp nhận thẻ: trong đó nêu rõ xu hướng và nguyên tắc quản lý chính sách phí trao đổi thẻ tại  một số nước và các TCTQT, chính sách chia sẻ phí tại thị trường Việt Nam hiện nay và đề xuất các mức chia sẻ phí phù hợp đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên liên quan; kiến nghị đề xuất NHNN về việc sửa đổi, hoàn thiện Thông tư quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng (thay thế Quyết định số  20/2007/NHNN ngày 15/5/2007)….

Hội thẻ phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức thành công các buổi Hội thảo, tọa đàm: tọa đàm lấy ý kiến góp ý dự thảo Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, cuộc họp lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo Bộ Luật hình sự sửa đổi có liên quan đến hoạt động thanh toán thẻ; tọa đàm góp ý sửa đổi Nghị định 101 về thanh toán không dùng tiền mặt, hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịch chung, thanh toán POS; Tọa đàm quốc tế “Các xu hướng mới trong thanh toán hiện đại”; tổ chức họp các Ngân hàng thành viên để triển khai Thông tư 35/2012/TT-NHNN quy định về phí dịch vụ thẻ ghi nợ nội địa và Thông tư số 36/2012/TT-NHNN quy định về trang bị, quản lý, vận hành và đảm bảo an toàn hoạt động ATM của NHNN. Ngoài ra, Hội thẻ tham gia Tổ xây dựng dự án “Xây dựng tiêu chuẩn thẻ chip nội địa” theo chỉ đạo của NHNN; ...

3. Diễn đàn trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hội viên

Hội thẻ thường xuyên tổ chức các cuộc họp để các hội viên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất những vấn đề vướng mắc trong hoạt động thẻ để tạo ra tiếng nói chung, hỗ trợ nhau giải quyết những khó khăn. Thông qua các cuộc họp, Hội thẻ thống nhất các nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh thẻ để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, hiệu quả: thống nhất cùng nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ đáp ứng yêu cầu ngày một cao của khách hàng, thống nhất mức thu phí chiết khấu đối với các ĐVCNT đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tham gia, kiến nghị các cơ quan quản lý ban hành quy định khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ: chính sách bắt buộc chấp nhận thanh toán thẻ đối với các đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở một số lĩnh vực; cơ chế ưu đãi như hỗ trợ miễn/giảm/hoàn thuế cho ĐVCNT và chủ thẻ. Hội thẻ đã chủ động đứng ra làm đầu mối tổ chức họp với các NHTV để định hướng truyền thông mỗi khi có những dư luận không tốt, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường thẻ Việt Nam, có giải pháp, xử lý tình huống hợp lý, tránh hiểu lầm của công chúng.

4. Thường xuyên cập nhật, chia sẻ thông tin rủi ro thẻ cho các ngân hàng thành viên để có biện pháp phòng tránh thiệt hại.

Dịch vụ thẻ ngân hàng ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh cả về số lượng và giá trị giao dịch, đi kèm với đó sẽ phát sinh những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ. Trong những năm gần đây, các đối tượng tội phạm có xu hướng nhằm vào thị trường mới phát triển, trong đó có Việt Nam để thực hiện các hành vi gian lận với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp. Để giúp các hội viên kiểm soát rủi ro, hạn chế những tổn thất về tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh thẻ, Hội thẻ thường xuyên cập nhật, thu thập các thông tin rủi ro thẻ, xu hướng gian lận, giả mạo trên thế giới và kịp thời chia sẻ các hành vi, thủ đoạn mới của tội phạm và đưa ra cảnh báo, khuyến nghị để các hội viên có biện pháp phòng tránh.

Từ năm 2013 đến 2015, TB QLRR Hội thẻ đã tiếp nhận thông tin và thông báo cho các NHTV về 2.125 thẻ đen, 2.828 thẻ nghi ngờ bị skimming liên quan đến hơn 47 vụ ATM skimming, 5.363 chủ thẻ đen (nợ quá hạn trên 90 ngày), 19 ĐVCNT đen; Riêng năm 2015, Tiểu ban đã thông báo 21 sự kiện ATM skimming, giảm 7 vụ, tương đương 75%  so với tổng số vụ skimming năm 2014; 348 thẻ nghi ngờ lộ dữ liệu, tương đương 70% so với tổng số thẻ nghi ngờ lộ dữ liệu trong năm 2014; 559 thẻ đen, giảm bằng 50% số lượng thẻ đen của năm 2014; 108 chủ thẻ đen có nợ quá hạn trên 90 ngày, giảm bằng 4,6% so với năm 2014; 11 ĐVCNT đen, tăng 83% so với số lượng năm 2014, 2 vụ ATM bị đập phá và 12 trường hợp tội phạm đã bị cơ quan điều tra C50 bắt giữ…; Hội thẻ đã chia sẻ với các NHTV về các hành vi, thủ đoạn mới của đối tượng tội phạm: sử dụng thẻ trả trước (pre-paid) vô danh để thực hiện giao dịch tại POS, các thủ đoạn skimming mới, tội phạm đánh cắp thông tin thẻ cấu kết với ĐVCNT thực hiện giao dịch khống tại ĐVCNT...

5. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hội thẻ đã thường xuyên tổ chức gặp gỡ trao đổi với các cấp lãnh đạo của các Tổ chức thẻ quốc tế để tăng cường quan hệ, chia sẻ thông tin vì mục tiêu phát triển thị trường thẻ Việt Nam. Hội thẻ cũng thông qua các tổ chức thẻ quốc tế tìm kiếm sự hỗ trợ nhiều mặt cho hoạt động của Hội thẻ, cho các NHTV. Hội thẻ đã phối hợp với các tổ chức thẻ quốc tế và các nhà cung ứng dịch vụ tổ chức các khóa học và khảo sát nghiệp vụ thẻ tại một số nước như Trung Quốc, Malaysia, Singapore… nhằm tạo điều kiện cho các cán bộ NHTV tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm phát triển các sản phẩm và dịch vụ thẻ mới. Cùng với các NHTV, Hội thẻ đã đàm phán thành công với MasterCard miễn toàn bộ phí trọng tài đối với các giao dịch thẻ Maestro EMV trong trường hợp ngân hàng thực hiện tái xuất trình chứng từ và bị thua kiện theo phán quyết trọng tài và Master Card sẽ xem xét về thời hạn; hợp tác thành công với tổ chức thẻ quốc tế Visa để thành lập trung tâm thanh toán bù trừ thẻ giữa các ngân hàng.

6. Đào tạo và chia sẻ kinh nghiệm nghiệp vụ

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường thẻ Việt Nam, nhu cầu về đào tạo của các tổ chức hội viên là rất lớn. Vì vậy, Hội thẻ tập trung tổ chức các hội thảo, khóa đào tạo, tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ cho các NHTV để cập nhật các sản phẩm, dịch vụ thẻ mới; cập nhật rủi ro định kỳ nhằm mục đích bổ sung các kiến thức và thông tin về nhận định rủi ro tại thị trường Việt Nam và khu vực, các kinh nghiệm thực tiễn và cách thức xử lý rủi ro gặp phải cũng như cập nhật các chương trình tuân thủ, kiểm soát rủi ro bắt buộc đối với các NHTV để kiểm soát rủi ro gian lận tại từng ngân hàng; tổ chức các chuyến khảo sát về nghiệp vụ thẻ tại tại các nước có nền công nghiệp thẻ tiên tiến để các cán bộ NHTV có điều kiện tiếp cận được những sản phẩm, dịch vụ thẻ hiện đại của các nước.

Xem 71847 lần
Đánh giá bài này
(1 Bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.