Thứ năm, 27 Tháng 7 2017
TIN MỚI

Giám đốc thẩm trong vụ án dân sự - một số vấn đề thực tế cần quan tâm trong hoạt động của ngân hàng

Giam doc tham trong vu an dan suGiám đốc thẩm được coi là thủ tục đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm khi có căn cứ cho rằng các kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, Giám đốc thẩm được coi là thủ tục đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm khi có căn cứ cho rằng các kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, hay có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật, hoặc, có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Về cơ bản so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2003 thì thủ tục Giám đốc theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không có sự khác biệt, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vẫn kế thừa gần như toàn bộ những quy định liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự 2003.

Nếu so với nguyên tắc xét xử của Tòa án thì hệ thống xét xử trong các vụ án (bao gồm cả những vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, hôn nhân gia đình…), pháp luật chỉ quy định hai cấp xét xử trong tất cả các vụ án đó là: cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. Bản án phúc thẩm được coi là bản án đã có hiệu lực pháp luật và bắt buộc các đương sự và những cá nhân, tổ chức, người có liên quan phải tuân thủ và thi hành.

Tuy nhiên, khi xem xét và ban hành các quy định của pháp luật liên quan đến việc xét xử của Tòa án, Quốc hội Việt Nam vẫn có những quy định xem xét đặc biệt đối với những bản án đã có hiệu lực của pháp luật. Việc quy định như thế phần nào đó thể hiện sự chủ động, khoan hồng và tránh oai sai trong các bản án. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ những kinh nghiệm trong thủ tục Giám đốc thẩm - một trong những thủ tục đặc biệt trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cũng như kinh nghiệm kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm trong các tranh chấp dân sự liên quan đến hoạt động của ngân hàng.

Trình tự Giám đốc thẩm vụ án dân sự

Về nguyên tắc, bản án phúc thẩm là bản án đã có hiệu lực pháp luật và bắt buộc các đương sự, cá nhân, tổ chức và những người có liên quan thi hành. Tuy nhiên, trên thực tế, khi áp dụng và theo thống kê của một ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam mà chúng tôi được biết, trung bình 1 năm ngân hàng này có khoảng gần 200 vụ việc kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm. Trong gần 200 vụ việc đó, khi kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm, chỉ có hơn 50 vụ được xem xét. Vậy quy trình, thủ tục Giám đốc thẩm bao gồm những công việc gì, những bước thực hiện như thế nào?

Bước 1: Phát hiện bản án đã có hiệu lực của pháp luật cần được xem xét lại theo thủ tục Giám đốc thẩm để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng cho ngân hàng.

Theo quy định trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu ngân hàng phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó, ngân hàng có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nếu phát hiện có căn cứ để xem xét.

Bước 2: Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục Giám đốc thẩm của ngân hàng. Đây được coi là bước rất quan trọng quyết định kết quả việc khiếu nại theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Theo quy định, khi ngân hàng phát hiện quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và chưa thỏa đáng tại bản án của tòa án, ngân hàng phải làm ngay đơn đề nghị và trong đơn đề nghị, ngân hàng cần đưa một số nội dung chính sau đây:

- Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;

- Tên, địa chỉ của người đề nghị;

- Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm;

- Lý do yêu cầu đề nghị;

- Người đại diện hợp pháp của ngân hàng (hoặc người được người đại diện hợp pháp ủy quyền) ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn;

- Kèm theo đơn đề nghị, ngân hàng gửi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định.

Bước 3: Bổ sung, xác minh tài liệu, chứng cứ trong thủ tục Giám đốc thẩm.

Về nguyên tắc, khi đã nộp đơn đề nghị, nếu xét thấy cần bổ sung những chứng cứ, tài liệu, ngân hàng vẫn có quyền bổ sung khi đã nộp đơn. Việc bổ sung, cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu ngân hàng giao nộp hoặc đã yêu cầu giao nộp nhưng ngân hàng vì lý do nào đó chưa np hoặc không nộp được.

Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, ngân hàng phải chú ư những người có thẩm quyền xem xét đơn khiếu nại theo thủ tục Giám đốc có quyền yêu cầu ngân hàng cung cấp, bổ sung các tài liệu để làm cơ sở ra quyết định kháng nghị.

Bước 4: Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị Giám đốc thẩm.

Trong quá trình gửi đơn đề nghị và đã được cấp có thẩm quyền xem xét, ngân hàng có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy định. Việc thay đổi, bổ sung phải được thực hiện bằng quyết định. Quyết định thay đổi, bổ sung kháng nghị phải được gửi theo đúng quy định tại của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngân hàng đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa Giám đốc thẩm.

Việc rút kháng nghị phải được thực hiện bằng quyết định. Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng nghị, Tòa án Giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử Giám đốc thẩm.

Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Như vậy, khi ngân hàng tiến hành các thủ tục gửi đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm, cần gửi đơn đề nghị lên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (lưu ý: gửi cùng lúc và nội dung đơn gửi phải giống nhau) vì chỉ có những người này theo quy định của luật mới có đủ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Thủ tục xét xử tại phiên tòa Giám đốc thẩm.

Trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền Giám đốc thẩm sẽ tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa.

Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị.

Ngân hàng, người đại diện hợp pháp (hoặc người được người đại diện hợp pháp ủy quyền) hoặc luật sư của ngân hàng trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng Giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ. Sau đó, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị. Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.

Sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử Giám đốc thẩm sẽ ra quyết định giám đốc thẩm và quyết định Giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng Giám đốc thẩm ra quyết định.

Lưu ý đối với việc kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm trong hoạt động ngân hàng.

Thực tế nhiều vụ án sau khi có bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm nhưng ngân hàng không chấp nhận với nội dung xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì chỉ có Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới có quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm, vì vậy, khi ngân hàng gửi đơn đề nghị xem xét kháng nghị thì lại không biết, hoặc, cấp có thẩm quyền không nhận được văn bản, hoặc, nhận được nhưng cũng chưa trả lời… do đó, ngân hàng cũng không biết được việc kháng nghị có được xem xét, giải quyết hay không.

Hoặc, trường hợp đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm của ngân hàng đã được cấp có thẩm quyền xem xét thì theo quy định, để đảm bảo quyền, lợi ích của ngân hàng, Tòa án phải có văn bản gửi Cơ quan Thi hành án yêu cầu hoãn thi hành án 3 tháng để Tòa án xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm. Tuy nhiên, trên thực tế, hết thời hạn 3 tháng, Tòa án vẫn chưa ra quyết định Giám đốc thẩm và cũng không yêu cầu gia hạn hoãn thi hành án nên dẫn đến việc Cơ quan Thi hành án vẫn tiếp tục thi hành án. Đến khi Tòa án ra quyết định Giám đốc thẩm hủy bản án đã có hiệu lực thì đã quá muộn vì Cơ quan Thi hành án đã tiến hành thi hành án. Lúc này bên chịu thiệt vẫn là ngân hàng. Do vậy, trên cơ sở những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với thủ tục Giám đốc thẩm, chúng tôi xin đưa ra một số đề xuất sau đây nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngân hàng khi kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Thứ nhất: Khi đã gửi đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm bản án đã có hiệu lực của pháp luật, mặc dù Tòa án chưa ra quyết định Giám đốc thẩm và chưa có văn bản gửi Cơ quan Thi hành án đề nghị hoãn thi hành án thì ngân hàng vẫn phải chủ động làm văn bản gửi Cơ quan Thi hành án kèm theo đơn đề nghị Giám đốc thẩm đề nghị hoãn thi hành án. Tránh trường hợp Cơ quan Thi hành án đã thi hành bản án xong, ngân hàng mới nhận được quyết định Giám đốc thẩm hoãn thi hành bản án thì đã quá muộn.

Thứ hai: Khi ngân hàng gửi đơn đề nghị Giám đốc thẩm đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cần bám sát việc xem xét của Tòa án, Viện kiểm sát. Khi gửi đơn đề nghị, nên gửi theo 2 hình thức là gửi theo đường bưu điện và gửi trực tiếp. Nếu gửi trực tiếp, cần phải lấy xác nhận của bộ phận văn thư tại Tòa án vì trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền Giám đốc thẩm sẽ tiến hành mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục Giám đốc thẩm.

Thứ ba: Người đại diện hợp pháp tại ngân hàng là người có đủ thẩm quyền ký đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm. Do vậy, khi ngân hàng kháng nghị Giám đốc thẩm, người đại diện theo pháp luật hoặc người được người đại diện theo pháp luật của ngân hàng ủy quyền ký đơn kháng nghị (Bộ luật tố tụng dân sự không quy định bắt buộc người đại diện theo pháp luật ký đơn kháng nghị nhưng theo quan điểm của chúng tôi người ký đơn kháng nghị nên là người đại diện theo pháp luật của ngân hàng hoặc người được người đại diện theo pháp luật của ngân hàng ủy quyền).

Thứ tư: Vì liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều ngân hàng nên chúng tôi thiết nghĩ, Hiệp hội Ngân hàng nên vào cuộc bằng việc gửi văn bản (trên cở sở đã tổng hợp ý kiến của các ngân hàng) kiến nghị đến Tòa án cấp có thẩm quyền đề nghị tạo điều kiện cho các ngân hàng trong việc xử lý vụ việc kháng nghị Giám đốc thẩm, qua đó góp phần để hoạt động kinh doanh ngân hàng được an toàn, bền vững, hiệu quả trong quá trình xử lý thu hồi nợ xấu.

Theo Agribank

Xem 1051 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.