Chủ nhật, 23 Tháng 7 2017
TIN MỚI

Ngân hàng hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp phát triển

Ngan hang ho tro toi da cho doanh nghiep phat trienChiều 17/5, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Người phát ngôn của Chính phủ Mai Tiến Dũng đã chủ trì họp báo, thông báo về những nội dung nổi bật của Hội nghị Thủ tướng Chính phủ và doanh nghiệp lần thứ 2 diễn ra cùng ngày.

Thông tin về Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp, có chủ đề “Đồng hành với doanh nghiệp”, diễn ra cùng ngày 17/5, tại Hà Nội, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh: Đây có thể coi là sự kiện gặp gỡ, đối thoại giữa Chính phủ, Thủ tướng với cộng đồng doanh nghiệp có quy mô lớn nhất từ trước tới nay, với trên 10.000 đại biểu tham gia, trong đó riêng tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia đã có hơn 2.000 đại biểu, tại các điểm cầu ở 63 tỉnh, thành phố, mỗi nơi có hơn 100 đại biểu. Hội nghị có sự tham gia của lãnh đạo Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và đặc biệt là của đông đảo cộng đồng doanh nghiệp, trong đó phần lớn là các DNVVN, các doanh nghiệp kinh tế tư nhân.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết, Hội nghị lần này được tổ chức ngay sau khi Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã thống nhất thông qua các nghị quyết về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp hôm nay là bước triển khai trực tiếp đầu tiên yêu cầu của Trung ương.

Tinh thần được Trung ương thống nhất rất cao là phải xóa bỏ mọi định kiến, rào cản với kinh tế tư nhân. Tinh thần này được quán triệt ngay từ khâu tổ chức, khi các đại biểu từ khối doanh nghiệp tư nhân chiếm tuyệt đại đa số tại Hội nghị, trong số 2.000 đại biểu trực tiếp dự tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia thì có tới 1.500 đại biểu doanh nghiệp tư nhân. Chúng ta đã xác định doanh nghiệp là động lực phát triển của nền kinh tế; cần cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp tư nhân chính là đối tượng cần nhất điều này.

Hội nghị thống nhất đánh giá việc triển khai thực hiện Nghị quyết 35 đã đạt nhiều kết quả tích cực mà hơn ai hết, cộng đồng doanh nghiệp có thể cảm nhận được. Nghị quyết đã góp phần tạo dựng niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, thể hiện những cam kết của Chính phủ đối với cộng đồng doanh nghiệp, truyền đi thông điệp mạnh mẽ về Chính phủ kiến tạo, phục vụ, hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp phát triển; tác động rất lớn đến bộ máy cơ quan Nhà nước các cấp và đội ngũ cán bộ, công chức. Chúng ta cũng nhận thấy rất rõ chưa bao giờ tinh thần khởi nghiệp, lập nghiệp lại sôi động, mạnh mẽ, có sức sống như thời gian vừa qua.

Theo Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết, đương nhiên phải căn cứ vào mục tiêu đã đề ra. Nghị quyết 35 đặt mục tiêu tới 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh. Khu vực tư nhân đóng góp khoảng 48-49% GDP, khoảng 49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5%/năm v.v…

Sau một năm triển khai Nghị quyết, trong năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 110.100 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký trên 900 nghìn tỷ đồng, đạt kỷ lục cao nhất về số lượng từ trước tới nay. 4 tháng đầu năm 2017 có gần 40.000 doanh nghiệp thành lập mới. Theo cam kết của các địa phương về phát triển doanh nghiệp, thì tới năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 1,4 triệu doanh nghiệp. Đây là một minh chứng cho môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện, là cơ sở để chúng ta có thể tin tưởng đạt được mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2020.

Về đầu tư nước ngoài, tính đến cuối năm 2016 cả nước có 2.613 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký là 15,81 tỷ USD, tăng 23,3% về số dự án và bằng 96,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Riêng trong 4 tháng đầu năm 2017 cả nước có 734 dự án mới được cấp giấy chứng nhận với tổng vốn đăng ký là 4,88 tỷ USD, bằng 96% so với cùng kỳ năm 2016.

Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú tham dự và đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên về một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động ngân hàng.

PV báo Dân Trí: Về những thu phí tiếp cận vốn, tạo điều kiện về vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, việc tăng cường vốn cho các đối tượng này có đi ngược với những mục tiêu đặt ra là làm thế nào hạn chế tối đa việc giảm tỉ lệ nợ xấu và giảm rủi ro cho các ngân hàng?

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú: Chúng tôi cho rằng không có gì là ngược, đây là việc hết sức đồng thuận, chi phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa chính thức hay không chính thức là nhu cầu hết sức cấp bách. Giảm chi phí để tiếp cận vốn có thể bằng nhiều hình thức nhưng có một việc thiết yếu là làm thế nào giảm lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các ngân hàng thương mại trên cơ sở tiết kiệm chi phí hợp lý. Việc giảm chi phí này của các ngân hàng thương mại nhiều năm qua đã rất tích cực, thực hiện được mục tiêu giảm càng nhiều càng tốt chi phí cũng như lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cơ sở tiết kiệm chi phí một cách hợp lý. Còn việc giảm chi phí của các ngân hàng thương mại nằm trong chương trình chung của nhiều năm qua và các ngân hàng thương mại cũng đã rất tích cực thực hiện được mục tiêu giảm càng nhiều càng tốt chi phí, đặc biệt là lãi suất cho vay cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Việc giảm rủi ro cho các ngân hàng thương mại khi phải giảm chi phí cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, có rất nhiều biện pháp chứ không phải chỉ là giảm chi phí. Tất nhiên các ngân hàng thương mại tạo được nhiều thuận lợi, tạo được nhiều nguồn thu để giảm nợ xấu cũng như rủi ro của mình. Đó cũng là những yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng các ngân hàng thương mại để thực hiện được mục tiêu giảm rủi ro, phải tăng dự phòng chống rủi ro với nhiều biện pháp, nhiều nội dung.

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Đặng Huy Đông: Về câu hỏi của báo Dân Trí có nhắc đến việc cho vay đối với DNNVV, và dường như có cảm giác rằng mở rộng cho vay đối với DNNVV là nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, ở góc độ phát triển DN, đặc biệt là chúng tôi đang trình Luật Hỗ trợ DNNVV, chúng tôi phải làm rõ vấn đề này. Số thống kê trong thời gianvừa qua mà tôi biết được thì nợ xấu nằm ở khu vực DNNVV rất thấp. Ngân hàng NN&PTNT, tỉ lệ nợ xấu cho vay đúng đối tượng DNNVV và những đối tượng nông nghiệp, nông dân và nông thôn là đối tượng theo chức năng, tôn chỉ mục đích của ngân hàng này. Nợ xấu lúc nặng nhất là dưới 2% và sau đó xuống dưới 1,5%, còn phần nợ trên 6, 7% nằm ở thành phố lớn và DN lớn.

Theo số liệu mới nhất, Ngân hàng Chính sách xã hội là nơi cho người nghèo, những người rất khó khăn, các đối tượng khó khăn trong xã hội thì tỉ lệ nợ xấu ở đó đều dưới 1,5%, là tỉ lệ nợ xấu rất thấp.

Nói vậy để chúng ta đừng hiểu lầm cho DNNVV vay nhiều thì dẫn đến nợ xấu. Còn đương nhiên ngân hàng sẽ có những quản lý theo chuẩn mực của ngân hàng. Các DNNVV muốn không phải tiếp cận nguồn vốn của tín dụng đen thì phải vươn lên để đáp ứng một số chuẩn, yêu cầu của ngân hàng, chuẩn tối thiểu về an ninh tài chính, an ninh tín dụng. Ở góc độ đó, theo Luật Hỗ trợ DNNVV, chúng tôi cũng đưa ra các chương trình Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, quản lý sổ sách, tài chính… để đạt được chuẩn khi họ đi vay vốn. Bằng cách đấy chúng ta sẽ đáp ứng được yêu cầu an ninh trong hệ thống tín dụng.

PV tạp chí Thương gia Thị trường: Chúng ta đang có một gói tín dụng khoảng 100.000 tỷ để phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, có một vấn đề là chúng ta vừa phải tiến hành giải cứu lợn, trước đó thì chúng giải cứu dưa hấu, vải... Một nền nông nghiệp còn khá manh mún, nhỏ lẻ nhưng hình như có dấu hiệu sản xuất thừa. Khi chúng ta tiếp tục đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao thì bài toán thừa sẽ được giải quyết như thế nào?

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú: Trước hết, về việc giải cứu lợn, dưa hấu, chúng ta đã có quá nhiều thông tin. Vấn đề này cũng được làm rất rõ rồi. Chính phủ cũng như các bộ ngành rất quyết liệt xử lý, đã có hiệu quả trong thời gian gần đây rồi.

Nhưng cũng phải hiểu lợn thừa, dưa hấu thừa, không phải chỉ do yếu tố trong nội tại nền kinh tế của chúng ta, tức là do giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầu mà có thể còn những nguyên nhân khách quan, như vấn đề xuất khẩu hay vấn đề khác, tạo ra sự đột biến tạo ra thừa có tính chất rất cấp bách như vừa qua. Bình thường, những năm trước, câu chuyện nuôi lợn, tiêu dùng nội địa cũng như xuất khẩu không có vấn đề đột xuất như vừa qua.

Đối với gói 100.000 tỷ, lần họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 4, sau họp báo có một phóng viên hỏi tôi, gói 100.000 tỷ có thừa không, có nhiều quá hơn hay là ít. Tôi nói rằng bây giờ chưa thể nói ngay được vấn đề gói 100.000 tỷ này nhằm để hỗ trợ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp là thừa hay thiếu. Bởi lẽ nếu như nhu cầu của nền kinh tế, nhu cầu của tiêu dùng trong nước cũng như có điều kiện để xuất khẩu những sản phẩm từ công nghệ cao này tích cực thì gói 100.000 tỷ này chưa chắc đã đủ để cho DN, dự án phát triển trong lĩnh vực này.

Ngược lại, nếu tiêu dùng trong nước hay xuất khẩu không bảo đảm đạt mục tiêu hay là vẫn ở mức độ thấp thôi, thì có khi gói 100.000 tỷ đồng này cũng có thể chưa dùng hết. Tuy nhiên, về phía Ngân hàng, theo chỉ đạo của Chính phủ cũng như sự phối hợp rất chặt chẽ với Bộ NN&PTNT thì ngành ngân hàng chủ động dành ra 100.000 tỷ đồng, nhưng không phải cứ để riêng 100.000 tỷ để chờ cho vay. Trong ngân hàng, gói 100.000 tỷ đồng là khi nào dự án cũng như các DN có nhu cầu, và thấy có hiệu quả và có thể giải ngân thì thực hiện giải ngân. Vì vậy, không có sự thừa lãng phí hay là 100.000 tỷ đồng không dùng mà để đấy. Việc sử dụng 100.000 tỷ đồng này cho nhu cầu của các DN ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp là một định hướng chỉ đạo, xu hướng hết sức cần thiết trong lúc này bởi có thực hiện được mục tiêu này, yêu cầu này thì sản phẩm trong nông nghiệp của chúng ta mới có thể cạnh tranh được không chỉ ở trong nước mà còn trên thế giới.

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Đặng Huy Đông: Về gói 100.000 tỷ, tôi phải nói rằng lợn, dưa hấu, vải không phải là sản xuất nhỏ nữa, mà là sản xuất lớn theo quy mô của tổng sản phẩm, nhưng nhỏ theo khía cạnh là các hộ sản xuất nhỏ lẻ. Trong Luật Hỗ trợ DNNVV chúng tôi có đưa ra 1 trong 3 chương trình quan trọng hỗ trợ cho DN tham gia vào các cụm liên kết ngành. Đấy là bước đi để xử lý tình trạng bất cập, như thừa lợn, dưa hấu, vải… như chúng ta vẫn làm, tình trạng được mùa mất giá.

Chỉ có cách, thứ nhất là phát triển theo tư duy cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị, tất cả những người giỏi nhất, DN tốt nhất, công nghệ tốt nhất trong chuỗi giá trị đấy được tham gia vào để nâng cao tính cạnh tranh cả về chất lượng và giá cả.

Thứ hai là phải vào tổ chức với nhau, nếu là DN lớn thì không kể, nhưng nếu là các hộ gia đình thì họ phải vào tổ chức của họ, có thể là hiệp hội nhưng cũng có thể theo chủ trương rất mạnh mẽ mà chưa triển khai được nhiều là mô hình HTX, bước tới là Liên hiệp HTX để họ có những tổ chức pháp nhân chính thức, để bước ra thị trường một cách chững chạc, ngang ngửa về sức mạnh so với các DN ở trên thương trường trong nước cũng như quốc tế. Chỉ có bằng cách đó họ mới có thể ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo thương mại chính ngạch thay vì theo thương mại tiểu ngạch, tùy theo quyết định của người mua, dẫn tới thiệt hại.

Bài toán lâu dài để xử lý vấn đề lợn, dưa hấu, vải... và những câu chuyện được mùa mất giá phải đi vào căn cơ như vậy. Chúng ta đi vào kinh tế thị trường, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế thế này, thì chỉ có sản xuất kinh doanh theo kỷ luật chặt chẽ, đoàn kết thì mới có sức mạnh. Chừng nào chúng ta không thuyết phục được người sản xuất, không thuyết phục được bà con, hộ nông dân tin tưởng vào sức mạnh của tập thể, cách đi theo cụm liên kết ngành như vậy, chừng đó chúng ta phải chấp nhận sự thiệt thòi trên thị trường thôi.

Xem 147 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.