TIN MỚI

Để phát huy vai trò hệ thống QTDND ở Việt Nam

Hinh anh Quy tin dung nhan danMặc dù hiện nay, phong trào HTXTD và QTDND đã phát triển rộng khắp trên thế giới nhưng lịch sử phát triển loại hìnhTCTD này cho thấy ngân hàng HTX (NHHTX) ở Cộng hòa Liên Bang Đức và QTD Desjardins ở Canada là những mô hình phát triển thành công nhất.

Quá trình hình thành và phát triển mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) luôn gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của phong trào Hợp tác xã (HTX) nói chung và Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) nói riêng. Các tổ chức tín dụng (TCTD) hợp tác với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như: HTXTD, Quỹ tín dụng và tiết kiệm, QTDND, HTX… đã hiện diện ở tất cả các nước trên thế giới và tập hợp vào những hiệp hội quốc tế với số hội viên trên 100 nước tham gia.

Mặc dù hiện nay, phong trào HTXTD và QTDND đã phát triển rộng khắp trên thế giới nhưng lịch sử phát triển loại hìnhTCTD này cho thấy ngân hàng HTX (NHHTX) ở Cộng hòa Liên Bang Đức và QTD Desjardins ở Canada là những mô hình phát triển thành công nhất. Đây cũng là những mô hình được nghiên cứu áp dụng thí điểm vào điều kiện thực tiễn tại Việt Nam.

Mô hình tổ  chức QTDND tại Việt Nam

Lịch sử phát triển QTDND đã minh chứng, để phát triển thành công mô hình này,hệ thống QTDND phải có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh gồm 2 bộ phận, đó là bộ phận trực tiếp hoạt động kinh doanh phục vụ thành viên và bộ phận tổ chức liên kết phát triển hệ thống. Nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì hệ thống QTDND cũng không thể tồn tại và phát triển bền vững được.

Tại Việt Nam, từ khi triển khai Đề án 390/TTg ngày 27/7/1993 của Thủ Tướng Chính phủ về việc thành lập thí điểm QTDND đến nay, hệ thống QTDND đã khẳng định được vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

Chỉ thị số 57/CT-TW ngày 10/1/2000 của Bộ chính trị ngày 10/10/2000 về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống QTDND chỉ ra rằng QTDND là loại hình TCTD do các thành viên (chủ yếu là do các cá nhân và hộ gia đình ở nông thôn) góp vốn lập nên, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể và từng thành viên, giúp thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, cải thiện đời sống.

Mô hình tổ chức hệ thống QTDND ở Việt Nam hiện nay có 2 cấp: cấp cơ sở bao gồm QTDND và cấp liên kết (liên đoàn) là NHHTX. Về cơ bản, hai loại hình HTXTD này đều tuân theo các nguyên tắc tổ chức và hoạt động giống nhau của một pháp nhân được tổ chức theo các nguyên tắc HTX, được hạch toán độc lập, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính của mình, tuân thủ theo các quy định của Luật HTX và Luật các TCTD.

QTDND là loại hình TCTD hợp tác, được thành lập và hoạt động theo địa giới hành chính (một xã, phường, thị trấn hoặc liên xã, phường, thị trấn...), hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Các hoạt động chủ yếu của QTDND gồm: huy động vốn, hoạt động cho vay, cung ứng các dịch vụ chuyển tiền, thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho các thành viên; nhận ủy thác và làm đại lý một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, quản lý tài sản theo quy định; gửi tiền tại NHHTX để điều hòa vốn, mở tài khoản thanh toán để sử dụng dịch vụ thanh toán tại NHHTX; cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính cho các thành viên, làm đại lý kinh doanh bảo hiểm.…

NHHTX là loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình HTX với mục tiêu chủ yếu là liên kết, bảo đảm an toàn của hệ thống thông qua việc hỗ trợ tài chính và giám sát hoạt động trong hệ thống QTDND. NHHTX hoạt động chủ yếu là điều hòa vốn và thực hiện các hoạt động ngân hàng đối với thành viên là các QTDND, được hạch toán độc lập, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả tài chính của mình. Thành viên của NHHTX là các QTDND tự nguyện tham gia, đóng góp cổ phần xác lập. Ngoài việc cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng cho các thành viên, NHHTX còn thực hiện các hoạt động kinh doanh thông thường như một ngân hàng thương mại, đảm bảo hiệu quả và an toàn.

Đến nay, NHHTX có khả năng cung cấp cho khách hàng (thành viên và không phải thành viên) hầu hết các loại hình sản phẩm và dịch vụ tài chính, ngân hàng (nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thanh toán, các loại hình bảo hiểm, quản lý tài sản, lập kế hoạch ngân sách, tư vấn tài chính,...). Hơn thế, các sản phẩm dịch vụ này đã đạt đến trình độ phát triển cao với quy mô hoạt động và trang thiết bị hiện đại không hề thua kém các ngân hàng thương mại. Về quy mô hoạt động, tổng tài sản của NHHTX đạt khoảng 25 nghìn tỷ đồng với mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong cả nước, sẵn sàng hỗ trợ, liên kết các QTDND trên địa bàn.

Mặc dù đã trải qua hơn 20 năm hoạt động, với nhiều khó khăn và thách thức, song đến nay, mô hình HTXTD đã khẳng định được sự cần thiết đối với quá trình phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần, trong mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị.Qua đó, đóng góp đáng kể vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn..

Phạm vi, quy mô, mạng lưới của mô hình HTXTD ngày càng được mở rộng, gồm NHHTX và gần 1.200 QTDND. Năng lực tài chính của hệ thống không ngừng tăng, vốn điều lệ của các QTDND luôn duy trì ở mức cao hơn so với quy định yêu cầu về mức vốn pháp định, hệ thống QTDND có mức vốn điều lệ bình quân một quỹ đến 31/12/2016 đạt trên 3 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với quy định là 100 triệu đồng. Các chỉ tiêu hoạt động và tài chính của hệ thống QTDND hàng năm đều có sự tăng trưởng ổn định. Tổng nguồn vốn hoạt động luôn duy trì mức tăng ổn định, năm sau cao hơn năm trước trên 15%; vốn huy động và dư nợ cho vay duy trì mức tăng trưởng đều ổn định và cân đối. Trong đó, chủ yếu là huy động và cho vay thành viên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Một số lưu ý nhằm phát huy vai trò của hệ thống QTDND trong giai đoạn hiện nay

Một là, phát huy vai trò kinh tế tập thể trong thị trường tiền tệ sôi động

Mô hình HTX là sự liên kết những người sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ để hợp sức, chung vốn từ đó tạo điều kiện thuận lợi, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển. Cùng với đó, sự liên kết này giúp chia sẻ nguồn lực, lợi tức, kinh nghiệm, tạo nên mối liên hệ hài hòa giữa các thành viên. Quan hệ kinh tế luôn được gắn liền với các quan hệ xã hội của xã viên tạo nên xu hướng liên kết cộng đồng cùng phát triển vì một mục tiêu chung.

Để hoạt động QTDND ngày càng đứng vững trong bối cảnh cạnh tranh của hệ thống ngân hàng hiện nay, rất cần thiết phải khai thác tối đa lợi thế của mô hình HTX hoạt động trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng. Việc so sánh hoặc cạnh tranh giữa các QTDND với các NHTM là khó khăn và không thể, tuy cùng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, song mô hình hoạt động khác nhau, tổ chức và tiêu chí hoạt động khác nhau. Vì vậy các QTD phải khai thác tối đa lợi thế và mục tiêu hoạt động theo quy định là liên kết, hợp tác và cùng phát triển với các thành viên tham gia.

Hai là, tổ chức và hoạt động phải gắn chặt với chính quyền sở tại

Để hoạt động của QTDND thực hiện đúng vai trò hỗ trợ thành viên, QTDND cần có sự hợp tác, phối hợp, chặt chẽ với chính quyền địa phương và các đoàn thể liên quan. Đây là vấn đề không mới, song rất quan trọng, nó luôn là yếu tố thúc đẩy các QTDND trên địa bàn hoạt động hiệu quả, an toàn và phát triển, giúp đảm bảo đồng vốn tín dụng đến đúng địa chỉ, tạo điều kiện cho các thành viên sử dụng vốn đúng mục đích, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

QTDND với lợi thế giúp các thành viên là chính người dân trong khu vực hạn chế đáng kể rủi ro tín dụng. Việc liên kết chặt chẽ với các tổ liên gia, hội phụ nữ, hội nông dân… ở khu vực nông thôn sẽ giúp QTDND dễ dàng tiếp cận sâu rộng với người dân. Thông qua liên kết này, QTDND có thể cung cấp các sản phẩm như cho vay theo nhóm, đồng tài trợ.Cho vay theo nhóm đặc biệt là nhóm tổ liên gia sẽ giúp QTDND giải quyết được những đặc điểm khác biệt của các hộ gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định vay vốn của các hộ. Không chỉ có thế, cho vay theo nhóm còn giải quyết vấn đề về diện tích đất, tài sản thế chấp khi vay vốn. Điều đó không những giúp các hộ gia đình dễ dàng tiếp cận với khoản vay mà còn giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Ba là, phát huy tối đa tính liên kết hệ thống

Tính liên kết hệ thống có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển mô hình TCTDHT.Để phát huy khả năng liên kết hệ thống ở mức độ cao nhất, cần phát huy tính liên kết hệ thống ở cả hai phương diện: (i) Liên kết thông qua một số nội dung hoạt động chủ yếu như: điều hòa vốn khả dụng; nâng cao hiệu quả đầu tư đối với những dự án lớn mà từng QTD đơn lẻ khó thực hiện được; xây dựng và áp dụng các chuẩn mực, quy tắc, kế hoạch kinh doanh và chiến lược phát triển thống nhất cho cả hệ thống; tư vấn về các vấn đề pháp lý và hoạt động nghiệp vụ; thiết lập hệ thống thanh toán, thông tin nội bộ; phối hợp thực hiện các chương trình hành động chung; xây dựng bảng cân đối tổng hợp; (ii) Liên kết thông qua cơ cấu tổ chức: Mặc dù mỗi QTDND là một pháp nhân độc lập nhưng lại được liên kết hết sức chặt chẽ thông qua việc các QTD cùng nhau thành lập nên tổ chức đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như việc đề ra định hướng phát triển chung và kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động của từng thành viên cũng như cả hệ thống, Hiệp hội QTDND.

Bốn là, phát huy vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND

Quỹ bảo đảm an toàn được chính thức thành lập theo Thông tư 03/2014/TT-NHNN, là một quỹ tài chính của hệ thống TCTD là HTX (bao gồm NHHTX và QTDND) do NHHTX lập trên cơ sở phí trích nộp của NHHTX và các QTDND thành viên, đặt tại NHHTX, do NHHTX quản lý, sử dụng theo nguyên tắc cho vay hỗ trợ có hoàn trả cho QTDND khi gặp khó khăn về tài chính hay  chi trả để có thể trở lại hoạt động bình thường.

Sự can thiệp của quỹ bảo đảm an toàn vào hoạt động của các QTD chủ yếu nhằm mục đích khắc phục, Điều này đồng nghĩa với việc sau khi đã sử dụng hết quỹ dự trữ tại chỗ mà vẫn không bù đắp được thâm hụt tài chính, thua lỗ hoặc thiếu hụt vốn tự có dẫn đến không đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định, QTDND có thể vay quỹ bảo đảm an toàn theo nguyên tắc có hoàn trả. Việc sử dụng nguồn vốn vay từ quỹ bảo đảm an toàn phải gắn liền với các biện pháp theo dõi, chấn chỉnh, củng cố hoạt động của QTDND được vay hỗ trợ; đồng thời với đó là cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của QTDND được hỗ trợ.

Sau khi hoạt động trở lại bình thường, QTDND có nghĩa vụ trả lại khoản vay từ quỹ bảo đảm an toàn. Nếu QTDND bị thanh lý thì phải hoàn trả lại tối đa 100% số tiền đã vay từ các khoản tiền thu hồi được trong quá trình thanh lý.

Năm là, về hoàn thiện xây dựng khuôn khổ pháp lý và các cơ chế, chính sách

Trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã không ngừng nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, tạo môi trường pháp lý đầy đủ đảm bảo cho hoạt động của QTDND theo đúng mục tiêu và định hướng đề ra. Rất nhiều các văn bản mới đã được ban hành như Thông tư 04 Quy định về QTDND, Thông tư 03 Quy định về Quỹ bảo toàn và các văn bản quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động…. Tuy nhiên, để khuyến khích và tăng cường hơn nữa hoạt động của hệ thống QTDND trong bối cảnh hoạt động của hệ thống ngân hàng ngày càng phức tạp và phát sinh nhiều rủi ro khó lường, cần thiết bổ sung văn bản quy định cụ thể hơn nữa về tổ chức, cơ chế hoạt động, kiểm toán, kiểm soát nội bộ cho hệ thống QTDND. Đồng thời, các Bộ, ngành cần phối hợp hơn nữa trong việc xây dựng các cơ chế, chính sách đối với QTDND như chính sách thuế, đào tạo cán bộ, ưu đãi trong việc tiếp cận với các nguồn vốn cho vay nông nghiệp nông thôn…

Xem 1494 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.