Thứ tư, 28 Tháng 10 2020
TIN MỚI

Chính sách bảo hiểm tiền gửi - những nội dung cơ bản người gửi tiền nên biết

Hinh anh Bao hiem tien gui Viet NamMục đích cơ bản và cốt lõi của chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đối tượng có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận thông tin về hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi.

Để được pháp luật bảo vệ tốt nhất, theo TS. Nguyễn Đình Lưu - nguyên Phó Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV), người gửi tiền cần phải biết những nội dung cơ bản về BHTG, trong đó nhấn mạnh:

Khái niệm BHTG: Là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản.

Tổ chức BHTG: Là tổ chức tài chính được giao thực hiện chính sách công về BHTG. Ở Việt Nam hiện nay có duy nhất 1 tổ chức BHTG là Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách BHTG, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Tổ chức tham gia BHTG: Là các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân. Bao gồm: ngân hàng thương mại; ngân hàng hợp tác xã; quỹ tín dụng nhân dân; chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các TCTD; tổ chức tài chính vi mô phải tham gia BHTG đối với tiền gửi của cá nhân bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng, trừ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức tài chính vi mô. Ngân hàng Chính sách không phải tham gia BHTG.

Tiền gửi được bảo hiểm: là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật các TCTD.

Tiền gửi của các cá nhân sau đây không thuộc đối tượng được bảo hiểm: tiền gửi tại TCTD của cá nhân là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại TCTD của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính TCTD đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó; tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.

Người được BHTG: là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG.

Đối tượng nộp phí BHTG: là tổ chức tham gia BHTG, người gửi tiền không phải đóng phí BHTG.

Khoản 3, Điều 12, Luật BHTG quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia BHTG như sau: “Nộp phí BHTG đầy đủ và đúng thời hạn”. Như vậy, người gửi tiền không phải nộp phí BHTG nhưng vẫn là đối tượng được BHTGVN bảo vệ.

Hạn mức trả tiền bảo hiểm: là số tiền tối đa mà tổ chức BHTG trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.

Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh hạn mức BHTG trong từng thời kỳ trên cơ sở đề nghị của Ngân hàng Nhà nước.

Qua 20 năm chính sách BHTG được triển khai tại Việt Nam, hạn mức BHTG đã 02 lần thay đổi, từ 30 triệu đồng năm 1999 lên 50 triệu đồng năm 2005 và hạn mức BHTG hiện hành là 75 triệu đồng/người/một tổ chức tham gia BHTG. Ngày 31/7/2020, Chính phủ đã công bố dự thảo Quyết định của Thủ tướng về hạn mức trả tiền BHTG với định hướng hạn mức BHTG dự kiến nâng lên trong thời gian tới là 125 triệu đồng.

Xử lý số tiền gửi của người gửi tiền vượt hạn mức BHTG: Số tiền gửi của người được BHTG bao gồm tiền gốc và tiền lãi vượt quá hạn mức trả tiền bảo hiểm sẽ được giải quyết trong quá trình xử lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của pháp luật.

Thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền: Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà TCTD là tổ chức tham gia BHTG vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc NHNN có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia BHTG mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.

Thời hạn trả tiền bảo hiểm: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ chức BHTG có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được BHTG

Bên cạnh việc nắm bắt được những nội dung cơ bản nêu trên về chính sách BHTG, người gửi tiền cần tuân thủ nghiêm túc quy trình gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG (tổ chức nhận tiền gửi) để tránh rủi ro. Đồng thời, việc tuân thủ nghiêm túc quy trình gửi tiền tại các tổ chức tham gia BHTG là yếu tố pháp lý cơ bản để người gửi tiền được pháp luật bảo vệ tốt nhất.

Theo DIV

Xem 1282 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng