Thứ ba, 20 Tháng 10 2020
TIN MỚI

Chuyển đổi số: Cơ hội cho các ngân hàng vượt qua khủng hoảng

Hinh anh ngan hang soĐại dịch Covid-19 đã tác động mạnh mẽ, toàn diện đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó có ngành tài chính - ngân hàng, làm thay đổi mô hình hoạt động, kế hoạch kinh doanh và chiến lược tăng trưởng của các định chế tài chính.

Ngoài những quan ngại đối với sức khỏe của nhân viên và khách hàng, Covid-19 còn có tác động tiêu cực đối với hoạt động kinh doanh, doanh thu trong trong ngắn hạn và dài hạn. Các ngân hàng cũng phải đối mặt với giai đoạn tỷ suất lợi nhuận đầu tư thấp, sự biến động phức tạp của thị trường làm ảnh hưởng đến tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn.

Theo thống kê, tác động của cuộc khủng hoảng Covid-19 đối với ngành ngân hàng Châu Âu lên tới gần 700 triệu Euro, gần bằng 50% tổn thất tín dụng dự kiến của các ngân hàng khu vực này trong quý 1/2020. Tại Mỹ, các ngân hàng đã báo cáo một mức cao kỷ lục trong các khoản dự phòng rủi ro tín dụng, 3 ngân hàng lớn gần đây cho biết họ đã trích lập tổng cộng khoảng 25 tỷ đô la Mỹ trong quý 2/2020.

Trong bối cảnh đó, khả năng giải quyết những thách thức mới phi truyền thống và sự thích ứng nhanh chóng với thay đổi bằng chiến lược chuyển đổi số thích hợp có thể là “chìa khóa thành công” giúp ngân hàng đón đầu cơ hội, vượt qua thách thức và tạo lợi thế cạnh tranh cho mình trước các đối thủ trên thị trường.

Tình hình chuyển đổi số của các tổ chức tài chính trên thế giới…

Các chuyên gia của công ty tư vấn quốc tế Ernst & Young (EY) mới đây có nhiều phân tích và khuyến nghị đối với hệ thống ngân hàng toàn cầu, để vượt qua khủng hoảng và tạo ra giá trị lớn hơn cho tổ chức của mình, cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và thiết lập mô hình kinh doanh mới nhằm cắt giảm chi phí không cần thiết, cải thiện năng suất lao động. Cùng với đó, cuộc khủng hoảng Covid-19 cũng khiến các ngân hàng phải xem xét và đánh giá lại các hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình để có chiến lược hoạt động phù hợp. Theo thống kê của EY, có đến 60% ngân hàng thông báo có kế hoạch thoái vốn trong 12 tháng tới nhằm tập trung thực hiện kế hoạch chuyển đổi mô hình hoạt động nội bộ, trước khủng hoảng, con số này là 46%.

Việc khách hàng sử dụng rộng rãi các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng số trong thời gian cách ly đã thúc đẩy các tổ chức tài chính triển khai nhiều giải pháp tài chính kỹ thuật số để tạo thuận lợi cho khách hàng có thể sử dụng dịch vụ tài chính từ xa mà không cần gặp mặt trực tiếp. Chính sách làm việc từ xa do Covid -19 áp dụng tại nhiều văn phòng cũng khiến các nhà quản lý phải điều chỉnh, phân bổ lực lượng lao động một cách hiệu quả hoặc có chính sách sử dụng trụ sở làm việc thực tế hơn mà không gặp phải tốn kém về chi phí trong dài hạn. Khủng hoảng cũng khiến nhiều ngân hàng nhận ra sự phụ thuộc quá mức vào các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài, vì vậy, đòi hỏi họ phải tiến hành chuyển đổi và lựa chọn đối tác tin cậy hơn nhằm cải thiện hiệu suất hệ thống công nghệ và đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ.

Bên cạnh tác động tới hệ thống ngân hàng, Covid-19 cũng làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng, là chất xúc tác để đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân hàng số cũng như thúc đẩy chiến lược chuyển đổi số. Theo kết quả khảo sát của EY, 60% người được hỏi nói cách thức giao dịch với ngân hàng của họ có sự thay đổi do Covid-19. Covid-19 cũng đã góp phần làm giảm 57% số lượng giao dịch sử dụng tiền mặt trong số những người được hỏi và làm tăng các giao dịch thanh toán bằng thẻ tín dụng (7%), thẻ ghi nợ (10%) và các công cụ thanh toán trực tuyến (14%), thanh toán phi tiếp xúc (34%). Một ngân hàng Singapore cho biết, số lượng tài khoản số mới mở đã tăng 2,4 lần trong quý 1/2020 so với cùng kỳ năm 2019 và số lượng đơn đăng ký khoản vay “số hóa” của doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) trong quý cũng tăng 49%, trong khi con số tăng trưởng cùng kỳ năm 2019 là 30%. Ngoài ra, 62% người tham gia phỏng vấn cho biết họ sẽ sử dụng ít tiền mặt hơn trong tương lai và 59% trả lời sẽ sử dụng nhiều hơn các phương thức thanh toán phi tiếp xúc.

Vào thời điểm tỷ suất lợi nhuận thấp, các công cụ kỹ thuật số có thể giúp các ngân hàng tiết kiệm chi phí, duy trì hoạt động liên tục trong thời gian khó khăn. Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện số hóa quy trình nghiệp vụ để thích ứng với nhu cầu ngày càng cao của khách hàng và thị trường, thì chi phí hoạt động của ngân hàng cũng được cắt giảm; chuyển đổi số lúc này tạo ra giá trị gia tăng cho ngân hàng. 27% người được hỏi trả lời các ngân hàng cần phải linh hoạt và năng động hơn trong 1 - 2 năm tới. “Đây không chỉ là câu hỏi về việc tự động hóa các quy trình để cắt giảm chi phí thế nào, mà đó là việc xem xét để áp dụng kỹ thuật số một cách bền vững”, một chuyên gia tư vấn thị trường vốn EY nhận định. Rõ ràng, Covid-19 góp phần giúp các ngân hàng nhận diện rõ hơn mục tiêu, phạm vi chiến lược chuyển đổi số của mình.

Tuy nhiên, chuyên gia EY cũng chỉ ra điều kiện để chuyển đổi số thành công là các ngân hàng cần đảm bảo cân bằng giữa 02 yếu tố, đó là nhu cầu (hoặc mong muốn) của khách hàng và nhu cầu số hóa. Covid-19 đã buộc khách hàng phải thay đổi phương thức giao dịch của họ nhưng để đáp ứng sự hài lòng một cách toàn diện, các ngân hàng cần phải xem xét để phục vụ từng đối tượng khách hàng. Hơn một nửa số người được hỏi cho biết cách mua hàng trong tương lai hay phương thức giao dịch của họ với ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng bởi việc các ngân hàng có tích cực hỗ trợ cộng đồng, minh bạch trong tất cả những gì họ làm và đảm bảo họ đang mang lại lợi ích cho xã hội hay không. Ngược lại, 44% nói rằng quyết định giao dịch của họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực nếu các ngân hàng chỉ tập trung tối đa hóa lợi nhuận. Rõ ràng, khách hàng sẽ luôn là yếu tố ngân hàng cần xem xét trong quá trình chuyển đổi số và để đạt được sự tin tưởng của người tiêu dùng trong thế giới số hóa, các ngân hàng phải theo dõi, cập nhật những bước phát triển của công nghệ, có sự hiểu biết tinh tế về xu hướng thị trường để có thể mang đến những sản phẩm, dịch vụ tiện tích với chi phí hợp lý nhằm gia tăng trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng.

Thực tiễn triển khai chuyển đổi số trong hệ thống ngân hàng Việt Nam

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư hay CMCN 4.0 đang diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và làm biến chuyển hầu hết cách hoạt động của nhiều ngành nghề, lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực ngân hàng. Với việc hình thành ngân hàng số, mô hình hợp tác - kinh doanh mới trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đã tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính an toàn, tiện ích được phân phối, cung ứng qua các kênh số, qua thiết bị di động mang đến lợi ích toàn diện, trải nghiệm đồng nhất, vượt trội cho người dùng. Trong bối cảnh đó, phát triển ngân hàng số trở thành xu hướng tất yếu giúp các ngân hàng chủ động thích ứng và phát triển bền vững.

Theo khảo sát sơ bộ của NHNN, ở Việt Nam hiện nay, 94% ngân hàng bước đầu triển khai hoặc đang nghiên cứu, xây dựng chiến lược chuyển đổi số, trong đó 59% ngân hàng đang triển khai chuyển đổi số. Nhiều ngân hàng trong nước đã ứng dụng các công nghệ tiên tiến, giải pháp mới vào hoạt động thanh toán nhằm tăng tốc độ thanh toán, tăng cường an toàn, bảo mật dịch vụ, gia tăng trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng như xác thực sinh trắc học (vân tay, khuôn mặt); thanh toán qua mã QR; thanh toán an toàn, thuận tiện qua mã hóa thông tin thẻ (Tokenization); thanh toán phi tiếp xúc tốc độ và tiện lợi; giải pháp chấp nhận thanh toán linh hoạt trên thiết bị di động (mPOS)... Nhiều ngân hàng thực hiện chuyển đổi số về quy trình và kênh giao tiếp, mang lại trải nghiệm mới cho khách hàng như Livebank của TPbank, không gian giao dịch công nghệ số (Digital Lab) của Vietcombank, trợ lý ảo (ChatBot) của MB, VietAbank,... Nhiều ngân hàng hợp tác với doanh nghiệp Fintech để triển khai ứng dụng thanh toán di động, ví điện tử, cổng thanh toán,… qua đó cho phép khách hàng dễ dàng thực hiện giao dịch thanh toán hàng ngày (trả tiền taxi, điện, nước, viễn thông, học phí, viện phí, chuyển tiền,..) từ điện thoại, máy tính có kết nối Intetnet mà không cần đến phòng giao dịch ngân hàng; tạo thuận lợi cho khách hàng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa được tiếp cận dịch vụ tài chính. Trong 6 tháng đầu năm 2020, trong khi nhiều ngành kinh tế bị ảnh hưởng bởi Covid-19 thì giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng vẫn tăng trưởng ấn tượng với mức tăng 48,3% về số lượng và 13,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng, nhằm giúp các ngân hàng thích ứng, phát triển trong thời đại công nghệ số, đáp ứng đòi hỏi thực tiễn từ cuộc sống và yêu cầu quản lý nhà nước hướng tới sự phát triển của xã hội, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, NHNN đã kịp thời triển khai một số nhiệm vụ như: Ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết 52-NQ/TW nhằm phát triển ngân hàng số, tạo thuận lợi cho các TCTD thực hiện chuyển đổi số; Nghiên cứu đề xuất ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp số Việt Nam; Nghiên cứu xây dựng Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng.. Song song với đó, NHNN cũng đang tập trung hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng thích ứng với cuộc CMCN 4.0, chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng bứt phá, đổi mới sáng tạo, đảm bảo an ninh, an toàn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;...

CMCN 4.0 hay Covid-19 có thể được coi là “phép thử” cho các định chế tài chính trong việc triển khai chiến lược chuyển đổi số. Trên thực tế, có rất nhiều tác động trong ngắn hạn và dài hạn nhưng tựu trung lại để thành công, các ngân hàng cần tập trung phát triển hệ sinh thái số của mình để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần phải xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo chiến lược chuyển đổi số của họ vận hành hài hòa với những thách thức mới của cuộc khủng hoảng cũng như những thách thức trong tương lai.

Theo SBV

Xem 767 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng