Thứ bảy, 21 Tháng 9 2019
TIN MỚI

Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế

Hinh anh cho vay tienNgày 05/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1726/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế (Đề án 1726). Đề án đã đưa ra 7 nhóm giải pháp, 8 chỉ tiêu cần đạt được và 14 nhiệm vụ cụ thể cần triển khai đến năm 2020.

Với vai trò chủ trì tổ chức triển khai, theo dõi, đôn đốc thực hiện Đề án, ngay sau khi Đề án được phê duyệt, NHNN đã chủ trì, tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai thực hiện Đề án trong toàn ngành ngân hàng.

Ngày 03/11/2016, NHNN đã ban hành Kế hoạch triển khai Đề án trong phạm vi ngành ngân hàng tại Thông báo kết luận số 332/TB-NHNN. NHNN cũng chú ý việc hoàn thiện thể chế chính sách góp phần tạo lập môi trường để phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.Từ khi ban hành Quyết định phê duyệt Đề án đến nay, NHNN đã tham mưu và ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Các chính sách cũng được NHNN ban hành hoặc sửa đổi tạo điều kiện phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới.

Việc triển khai Đề án 1726 đã đạt những kết quả tích cực,qua đó khẳng định, những định hướng, quan điểm và các giải pháp của Đề án rất sát với thực tiễn. Đây là bước đi chuẩn bị cho Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng

Nhiều chỉ tiêu cụ thể của Đề án đến năm 2020 hầu hết đã được thực hiện theo đúng lộ trình, có chỉ tiêu gần đạt mục tiêu của năm 2020, tiêu biểu như: Số thiết bị chấp nhận thẻ POS đến Quý II/2018 đạt 289.075 máy, tăng hơn 66.000 máy so với cuối năm 2015, so với mục tiêu 300.000 máy đến năm 2020, đạt 96% kế hoạch.Tính đến Quý II/2018, số người có tài khoản ngân hàng (đã loại trừ trùng lặp) là 43,2 triệu tài khoản, tương ứng với tỷ lệ người dân ở độ tuổi trưởng thành có tài khoản thanh toán tại hệ thống ngân hàng là 60%, so với mục tiêu đặt ra cho năm 2020 là 70%, đạt 41% kế hoạch.Tỷ lệ chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng thương mại tại địa bàn nông thôn tăng từ 10% năm 2015 lên 12,07% tính đến Quý II/2018 (mục tiêu đến năm 2020 là 15%). Tỷ trọng thu nhập từ hoạt dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM năm 2017 đạt 9,3%, tăng 2,9% so với năm 2015, đạt gần 45% mục tiêu đến năm 2020. Nếu xét về số tuyệt đối thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng năm 2017 đạt hơn 266 tỷ đồng, tăng gấp 2,6 lần so với năm 2015.Tổng số chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng thương mại đạt trên 10.270 điểm, tương đương 14,3 điểm/100.000 dân số trưởng thành, tăng gần 2 điểm so với 12,4 điểm năm 2015. Đến cuối tháng 4/2019, trên toàn quốc có hơn 18.700 ATM, hơn (tăng tương ứng 4,25% so với cùng kỳ năm ngoái).

Những nhiệm vụ quan trọng đã hoàn thành như: Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016-2020, phát triển các hình thức thanh toán hiện đại, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa (Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016); Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công: thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội (Quyết định 241/QĐ-TTg ngày 23/2/2018); Thông tư quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016); Hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo hiểm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (Nghị định 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018)...

Mạng lưới, kênh cung ứng dịch vụ ngân hàng được mở rộng

Hệ thống mạng lưới cung ứng dịch vụ ngân hàng của các TCTD được tiếp tục xem xét cho mở rộng theo năng lực về vốn và chất lượng quản trị kinh doanh. Tính đến Quý II/2018, mạng lưới hoạt động hệ thống NHTM tổng cộng có 10.270 chi nhánh và phòng giao dịch (không bao gồm Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Hợp tác xã, Ngân hàng Phát triển Việt Nam), tương đương 14,3 điểm giao dịch/100.000 người trưởng thành. Mạng lưới ATM và POS đều có sự tăng trưởng khá, POS được lắp đặt tại hầu khắp các cửa hàng, siêu thị, tại các điểm dịch vụ công.

Các kênh cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ thông tin viễn thông và internet phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đến tháng 8/2019, có 31 tổ chức không phải ngân hàng được NHNN cấp phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; gần 100 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tại Việt Nam. Đã có hơn 40 NHTM tham gia phối hợp với các tổ chức trung gian thanh toán triển khai dịch vụ Ví điện tử.

Dịch vụ qua Internet và điện thoại di động ở Việt Nam đã đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng.Thanh toán điện tử qua Internet, điện thoại di động, đến 31/3/2019, số lượng giao dịch tài chính qua kênh Internet đạt hơn 101 triệu giao dịch với giá trị giao dịch khoảng 4.581 nghìn tỷ đồng (tăng tương ứng 65,81% và 13,46% so với cùng kỳ năm 2018); số lượng giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động đạt hơn 76 triệu giao dịch với giá trị giao dịch hơn 924 nghìn tỷ đồng (tăng tương ứng 97,75% và 232,3% so với cùng kỳ năm 2018).

Nhiều dịch vụ ngân hàng đã được cung cấp trên nền tảng Internet và điện thoại di động như: tra cứu thông tin, quản lý tài khoản, chuyển tiền trong và ngoài hệ thống, thanh toán hóa đơn, gửi tiết kiệm trực tuyến, thanh toán tiền vay/thẻ tín dụng…và mới đây tiếp tục được bổ sung nhiều tính năng như chuyển tiền định kỳ, tính năng mở/khóa thẻ; thanh toán bằng QR Code, cá nhân hóa giao diện, ứng dụng công nghệ sinh trắc học (vân tay) để nâng cao độ bảo mật. NHNN cũng khuyến khích đổi mới sáng tạo, cấp phép mới cho các doanh nghiệp công nghệ tài chính (Fintech). Đến nay ở Việt Nam đã có khoảng 50 công ty Fintech.

NHNN đã định hướng, khuyến khích các TCTD đầu tư vào ứng dựng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành và quản trị nội bộ, số hóa mọi hoạt động giao dịch ngân hàng và cập nhật những công nghệ mới nhất như xác thực vân tay, sinh trắc, mã QR Code (NHNN đã ban hành Quyết định số 1928/QĐ-NHNN về việc công bố Tiêu chuẩn cơ sở “ Đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía đơn vị chấp nhận thanh toán tại Việt Nam”), thanh toán phi tiếp xúc (NFC) để tạo bước đột phá trong hoạt động cung cấp dịch vụ tới khách hàng. Đồng thời, tạo điều kiện để các NHTM mở rộng hợp tác với các doanh nghiệp thương mại điện tử, các trung gian thanh toán để phục vụ các giao dịch thanh toán bán lẻ, giá trị thấp (Ví điện tử), phối hợp thu ngân sách nhà nước.

Hệ thống mạng lưới tại địa bàn nông thôn tiếp tục được phát triển sâu rộng, phát huy hiệu quả tích cực bởi Ngân hàng Chính sách xã hội, hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô và các mô hình liên kết. Hoạt động tín dụng chính sách của NHCSXH đã góp phần giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội. NHCSXH hiện đã bắt đầu triển khai dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động nhằm mục tiêu tăng cường và cải thiện sự tiếp cận các dịch vụ tài chính cho người nghèo, người thu nhập thấp.

Tăng năng lực cung ứng dịch vụ của TCTD

Để nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ của các tổ chức tín dụng, NHNN hiện đang nỗ lực đẩy nhanh tiến độ tái cơ cấu các TCTD theo Đề án cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 (Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017), lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các TCTD, từ đó tăng cường năng lực cung cấp dịch vụ ngân hàng đến với người dân và doanh nghiệp.

Các TCTD tăng cường kết nối với các cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc, điện lực, viễn thông, BHXH, bệnh viện, trường học... cung cấp nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán phù hợp nhằm phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công.

NHNN đã triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng quốc gia, từng bước cải thiện, minh bạch hóa thông tin tín dụng, tạo điều kiện để các khách hàng vay được tiếp cận tín dụng bình đẳng trên thị trường. Hoạt động thông tin tín dụng của NHNN được khẳng định là một trụ cột quan trọng của cơ sở hạ tầng tài chính quốc gia, góp phần vào cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ngoài ra, hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng được đẩy mạnh. Liên tục từ 2011 đến nay, NHNN đã phối hợp với chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh Chương trình Kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đã từng bước được cải thiện. Các chương trình truyền thông, giáo dục tài chính như “Tiền khéo tiền khôn”, “Đồng tiền thông thái” được dư luận đánh giá cao, qua đó tăng cường sự hiểu biết của công chúng về dịch vụ tài chính ngân hàng, nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng cho người dân và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Để thúc đẩy tài chính toàn diện

Bên cạnh những kết quả trên, quá trình triển khai Đề án 1726 cũng gặp một số khó khăn như: mô hình đại lý ngân hàng chưa phát triển nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Cũng tại các vùng này, hệ thống mạng lưới, chi nhánh, phòng giao dịch, máy POS, ATM cũng chưa phủ sóng do nhiều nguyên nhân. Chưa kể thói quen sử dụng tiền mặt, tâm lý e ngại về an ninh bảo mật thanh toán của người dân. Tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa, người dân càng ít có điều kiện tiếp cận sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng của. Theo Viện Chiến lược ngân hàng (NHNN), để đánh giá kế quả thực hiện Đề án cũng như để phục vụ cho việc đánh giá giám sát Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia sắp tới, một cơ sở dữ liệu về tài chính toàn diện đầy đủ là rất quan trọng nhưng công tác thu thập số liệu và đánh giá kết quả thực hiện gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, cần triển khai xây dựng một cơ sở dữ liệu đầy đủ về tài chính toàn diện do NHNN làm đầu mối kết nối với các bộ, ngành và cập nhật bởi một đơn vị chuyên trách của NHNN. Điều này có ý nghĩa không chỉ cho việc triển khai tài chính toàn diện mà còn phục vụ cho việc hoạch định các chính sách của NHNN và của Chính phủ.

Do đó, thời gian tới, Bộ ngành liên quan cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư và các chính sách về kết nối với cơ quản quản lý, doanh nghiệp, các TCTD, người dân để tạo nền tảng cho phát triển tài chính số và ngân hàng số của quốc gia. Vì đây là cơ sở dữ liệu quan trọng nhất cho việc nhận biết khách hàng (KYC) của TCTD tạo lập các giao dịch về tài chính, ngân hàng; tiền đề cải tiến thủ tục trong tiếp cận các loại dịch vụ ngân hàng, tiết kiệm về thời gian và chi phí giao dịch, nâng cao năng suất lao động trong khu vực tài chính.

Công nghệ sẽ thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính số, ngân hàng số, gia tăng rất nhanh khả năng tiếp cận của người dân nhất là đối với nhóm dân cư thu nhập thấp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ. Vì vậy thời gian sắp tới, Việt Nam cần ưu tiên dành nguồn lực đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin viễn thông nhằm phục vụ lâu dài cho chiến lược phát triển kinh tế số và cũng là tạo điều kiện thuận lợi để ngành dịch vụ tài chính ngân hàng số phát triển. Đồng thời, việc xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển tài chính ngân hàng số là rất cần thiết; cùng với việc ban hành khuôn khổ pháp lý thử nghiệm cho Fintech cung ứng dịch vụ ngân hàng (regulatory sandbox), trên cơ sở đó NHNN sẽ đánh giá để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần thiết liên quan, đáp ứng mục tiêu tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính - ngân hàng, nhất là đối với người dân không có tài khoản ngân hàng và các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ cần tiếp cận nguồn vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đặc biệt, công tác truyền thông cần tiếp tục được tăng cường, hướng đến đối tượng người dân vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, nhằm nâng cao kiến thức cho người dân về các sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng, giảm thiểu rủi ro cho người sử dụng và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho công chúng.

Theo Thời báo Ngân hàng

Xem 49 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.