Thứ năm, 14 Tháng 11 2019
TIN MỚI

Hoàn thiện quy định quản lý Ví điện tử

Hoan thien quy dinh quan ly Vi dien tuVí điện tử được xem là cánh tay nối dài của các loại thẻ ngân hàng tới các ngõ ngách trong đời sống tiêu dùng, nếu buông lỏng dễ dẫn đến việc lợi dụng cho những hoạt động phạm pháp như tham nhũng, rửa tiền. Ngược lại, nếu siết chặt quá sẽ hạn chế sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM).

Do đó, cơ quan quản lý đang hoàn thiện chính sách quản lý đối với Ví điện tử sao cho phù hợp.

Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định: “Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1”.

Như vậy, Ví điện tử là một tài khoản điện tử định danh trên vật mang tin để lưu trữ một giá trị tiền tệ mà giá trị tiền tệ đó tương đương với giá trị tiền gửi chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng vào tài khoản đảm bảo của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử.

Hiểu đơn giản, Ví điện tử hay Ví số là một tài khoản điện tử thường được tích hợp trong các ứng dụng điện thoại hoặc sử dụng qua website có công dụng như một chiếc ví giúp người dùng đựng tiền từ các tài khoản ngân hàng, có chức năng thanh toán và giao dịch trực tuyến với các trang web điện tử hoặc các loại phí trên internet mà có liên kết và cho phép thanh toán bằng ví điện tử. Các nhà cung cấp dịch vụ này sẽ hợp tác với ngân hàng để quản lý tiền của người dùng và thông qua kết nối này, ngân hàng sẽ giảm sự quản lý các giao dịch thanh toán từ thẻ khách hàng bởi các giao dịch này sẽ do nhà cung cấp Ví điện tử quản lý. 

Nở rộ Ví điện tử

Trong các loại hình thanh toán qua di động, Ví điện tử đang hoạt động sôi nổi nhất thị trường, qua đó đưa lại nhiều tiện ích, an toàn cho người dùng, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM)

Những năm gần đây, thanh toán qua Ví điện tử đang được nhiều người lựa chọn, thu hút nhiều tổ chức tham gia.Theo NHNN, số lượng trung gian thanh toán đã tăng lên mức gần 30 công ty, với khoảng 26 tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử, 10.000 đơn vị chấp nhận thanh toán Ví điện tử. Tính đến ngày 31/12/2018, cả nước có 4,24 triệu Ví điện tử đã được xác thực, liên kết với tài khoản ngân hàng. Theo báo cáo của các tổ chức trung gian thanh toán, trong năm 2018, tổng số lượng giao dịch bằng Ví điện tử đạt hơn 214.639 nghìn món với tổng giá trị giao dịch đạt hơn 91,06 nghìn tỷ đồng (tăng 15,39% về số lượng giao dịch so với năm 2017), bình quân đạt khoảng 424.253 đồng/giao dịch. Theo Napas, trong năm 2018, tổng giá trị thanh toán điện tử qua mạng lưới của trung gian thanh toán tăng gần 170% so với năm trước đó.

Người dùng không quá xa lạ với các Ví điện tử quốc tế như: PayPal, Alert Pay, Moneybookers, WebMoney, Perfect Money,... PayPal là Ví điện tử phổ biến nhất và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới hiện nay. Ngoài ra, Alipay, Wechat Pay cũng đang từng bước thâm nhập vào thị trường Việt Nam và sở hữu nhiều ưu thế hơn khi có hệ sinh thái rộng khắp, nhiều điểm chấp nhận thanh toán tại nhiều quốc gia. Điều đó sẽ báo hiệu rằng thị trường thanh toán điện tử Việt Nam sẽ có sự cạnh tranh cực kỳ gay gắt trong thời gian tới và đó vừa là cơ hội và cũng là thách thức lớn cho Ví điện tử Việt Nam. Những cái tên Ví điện tử đang được dùng nhiều nhất tại thị trường Việt như: Momo, Bank Plus, Ví Việt, Zalo Pay, VTC Pay, Moca, Vimo, Top pay, Airpay, Appota…

Về ưu điểm, tài khoản ngân hàng cá nhân thường được kết nối với Ví điện tử giúp khách hàng sử dụng thanh toán và giao dịch vô cùng linh hoạt và tiện lợi với các lợi ích như: Thanh toán trực tuyến: Giúp thanh toán trong các giao dịch mua sắm trực tuyến, các dịch vụ ăn uống giải trí, hoặc thanh toán hóa đơn tiền điện nước, điện thoại, vé máy bay, cước internet; Nhận và chuyển tiền: Ví điện tử có khả năng giữ tiền cũng như tham gia các giao dịch chuyển khoản giữa các tài khoản ngân hàng như một tài khoản ngân hàng bình thường một cách nhanh chóng; Nạp và rút tiền từ tài khoản điện tử để duy trì và sử dụng mà không cần e ngại vấn đề an toàn và bảo mật của ví.

Do vậy, sử dụng Ví điện tử mang đến cho khách hàng sự tiện lợi và an toàn, tiết kiệm thời gian trong việc di chuyển bởi giúp dễ dàng thực hiện thanh toán chuyển và nhận tiền, đồng thời kiểm soát tài khoản tiền với việc truy vấn tài khoản và sự biến động trong tài khoản của mình. Thanh toán bằng Ví điện tử sẽ làm giảm bớt lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần ổn định lạm phát, thúc đẩy TTKDTM...

Để thanh toán bằng Ví điện tử, thông thường chủ ví (cá nhân, doanh nghiệp) phải nạp tiền vào ví bằng cách chuyển tiền từ tài khoản (cá nhân, thẻ ATM) tại ngân hàng liên kết với nhà phát hành ví. Nhà phát hành ví phải liên kết với các đơn vị bán hàng hóa, dịch vụ chấp nhận thanh toán bằng hình thức này. Thông thường, trong giao dịch bằng Ví điện tử tại Việt Nam hiện nay, bên bán hàng chi trả cho nhà phát hành ví khoảng 1%/doanh số; nhà phát hành ví trả phí nhất định cho ngân hàng và chiết khấu 2%-5% trên hóa đơn thanh toán cho khách hàng là chủ ví.

An toàn, bảo mật khi sử dụng Ví điện tử

Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng sử dụng Ví điện tử vẫn có thể phát sinh một số nhược điểm như khách hàng có thể bị mất tài khoản nếu để lộ thông tin của mình nhất là khi truy cập thường xuyên vào các trang web không đáng tin cậy.

Theo quy định, khi khách hàng muốn nạp tiền vào Ví điện tử phải liên kết với tài khoản ngân hàng bằng cách cung cấp các thông tin về tài khoản ngân hàng đó, có nhà băng yêu cầu chụp cả giấy chứng minh nhân dân 2 mặt. Đây được coi là một "lá chắn" tài chính cho khách hàng thay vì nạp thẳng tiền vào ví như hiện nay. Thế nhưng quy định này sẽ làm hạn chế việc mở rộng người sử dụng ví bởi dân số có tài khoản ngân hàng hiện nay chỉ khoảng 30%, đặc biệt vùng nông thôn còn thấp hơn. Tuy nhiên một số chuyên gia cũng cho rằng, nếu không có sự liên kết qua tài khoản ngân hàng thì việc chống rửa tiền, chống tham nhũng sẽ khó, do đó cần thiết phải có sự liên kết này.

Đồng thời, các công ty cung cấp Ví điện tử cần đầu tư hơn nữa vào công nghệ thông tin, tăng cường các lớp bảo mật để ngăn chặn tấn công của kẻ gian. Một Ví điện tử cần thiết phải có 2 lớp bảo mật, 1 lớp vào ví và 1 lớp bảo mật OTP thứ 2 khi thực hiện thanh toán, chuyển khoản tiền.

Có thể nói, vấn đề an toàn, bảo mật của Ví điện tử mới là quan trọng, quyết định việc khách hàng sử dụng dịch vụ, khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là vấn đề mà khách hàng sử dụng ví thời gian qua khá quan tâm. Khi các ngân hàng tăng cường đầu tư bảo mật công nghệ thông tin thì việc kết nối Ví điện tử với tài khoản ngân hàng được xem như là “lá chắn” thứ 2 cho Ví điện tử.

Về phía người sử dụng cần phải lưu ý:  (i) Bảo mật thông tin tài khoản Ví điện tử và không chia sẻ thông tin về tài khoản ngân hàng, Ví điện tử cho người khác; (ii) Không dùng chung một tài khoản để thanh toán nhiều dịch vụ khác nhau; (iii) Nên cài đặt các phần mềm chống vi rút trên điện thoại, máy tính đảm bảo tài khoản, phòng tránh tình trạng tài khoản của mình bị đối tượng xấu lấy cắp.

Quy định về mở và sử dụng Ví điện tử

Một số các quy định liên quan đến điều kiện quy mô, nguồn tài chính hoạt động Ví điện tử và những hoạt động của ví điện tử đáng chú ý.

Về điều kiện cung ứng dịch vụ Ví điện tử

Theo quy định hiện hành, cung ứng dịch vụ Ví điện tử là hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện mà tổ chức cung ứng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định 101/2012/NĐ-CP (đã được sửa đổi bổ sung) và Thông tư 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 của NHNN hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán, cụ thể:

Các tổ chức không phải là ngân hàng muốn cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (trong đó có dịch vụ Ví điện tử) phải đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện sau: (i) Có giấy phép thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; (ii) Có phương án kinh doanh dịch vụ trung gian thanh toán được phê duyệt theo đúng quy định về thẩm quyền đầu tư tại điều lệ hoạt động của tổ chức, trong đó tối thiểu phải có các nội dung: Quy trình nghiệp vụ kỹ thuật của dịch vụ đề nghị cấp phép; cơ chế đảm bảo khả năng thanh toán; quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ; quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn, bảo mật; các nguyên tắc chung và quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền; quy trình và thủ tục giải quyết yêu cầu tra soát, khiếu nại, tranh chấp; quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình cung ứng dịch vụ; (iii) Có vốn điều lệ tối thiểu là 50 tỷ đồng; (iv) Điều kiện về nhân sự: Người đại diện theo pháp luật, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức đề nghị cấp phép phải có bằng đại học trở lên hoặc có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp tại một trong các lĩnh vực quản trị kinh doanh, kinh tế, tài chính, ngân hàng, luật; (v) Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) và các cán bộ chủ chốt thực hiện Đề án cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (gồm Trưởng phòng (ban) hoặc tương đương và các cán bộ kỹ thuật) có bằng cao đẳng trở lên về một trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin hoặc lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm;

Về điều kiện về kỹ thuật: Có cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống công nghệ thông tin, giải pháp công nghệ phù hợp với yêu cầu của hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán; hệ thống kỹ thuật dự phòng xây dựng độc lập với hệ thống chính đảm bảo cung cấp dịch vụ an toàn và liên tục khi hệ thống chính có sự cố và tuân thủ các quy định khác về đảm bảo an toàn, bảo mật hệ thống công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng;

Đối với dịch vụ chuyển mạch tài chính, dịch vụ bù trừ điện tử, tổ chức cung ứng dịch vụ phải được một tổ chức thực hiện quyết toán kết quả bù trừ giữa các bên liên quan;

Đối với dịch vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán cho các khách hàng có tài khoản tại nhiều ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ phải kết nối với một tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và dịch vụ bù trừ điện tử được Ngân hàng Nhà nước cấp phép để thực hiện chuyển mạch và xử lý bù trừ các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của tổ chức.

Không được phép sử dụng Ví điện tử để huy động vốn, tài chính của khách hàng

Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định: “Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1” (Khoản 3 Điều 8).

Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 hướng dẫn dịch vụ TGTT (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định:

“Điều 8. Đảm bảo khả năng thanh toán

1. Tổ chức cung ứng dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ và tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải mở tài khoản đảm bảo thanh toán để đảm bảo cho việc cung ứng các dịch vụ này. Số dư trên tài khoản đảm bảo thanh toán phải được duy trì không thấp hơn so với tổng số tiền đã nhận của khách hàng mà chưa thực hiện thanh toán cho đơn vị chấp nhận thanh toán (đối với dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ) hoặc tổng số dư của tất cả các Ví điện tử của các khách hàng (đối với dịch vụ Ví điện tử) tại cùng một thời điểm.

2. Tài khoản đảm bảo thanh toán chỉ được sử dụng vào việc:

a) Thanh toán tiền cho các đơn vị chấp nhận thanh toán;

b) Hoàn trả tiền cho khách hàng sử dụng dịch vụ khi có yêu cầu.

Điều 9. Hoạt động cung ứng Ví điện tử

1. Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử không được phép:

b) Cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng Ví điện tử, trả lãi trên số dư Ví điện tử hoặc bất kỳ hành động nào có thể làm tăng giá trị tiền tệ trên Ví điện tử.

2. Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử phải có công cụ để Ngân hàng Nhà nước kiểm tra, giám sát theo thời gian thực tổng số tiền của khách hàng trên các Ví điện tử và tổng số tiền trên tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử tại các ngân hàng.

3. Việc nạp tiền vào Ví điện tử, rút tiền ra khỏi Ví điện tử của khách hàng phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng”.

Như vậy, Ví điện tử là một tài khoản điện tử định danh trên vật mang tin để lưu trữ một giá trị tiền tệ mà giá trị tiền tệ đó tương đương với giá trị tiền gửi chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng vào tài khoản đảm bảo của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử. Tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử không được trả lãi trên số dư Ví điện tử, hay làm tăng giá trị tiền tệ trên Ví điện tử. Đối với số tiền của khách hàng trên tài khoản đảm bảo thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử chỉ được sử dụng vào mục đích: (i) Thanh toán tiền cho đơn vị chấp nhận thanh toán, (ii) Hoàn trả tiền cho khách hàng.

Do vậy, không được phép sử dụng Ví điện tử để huy động vốn, tài chính của khách hàng và cũng không được sử dụng số tiền của khách hàng trên tài khoản đảm bảo thanh toán để đầu tư.

Về loại tiền tệ được chấp nhận cho Ví điện tử

Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định: “Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1” (Khoản 8 Điều 3).

Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 hướng dẫn dịch vụ TGTT (đã được sửa đổi, bổ sung) quy định: “Việc nạp tiền vào Ví điện tử, rút tiền ra khỏi Ví điện tử của khách hàng phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng” (Khoản 3 Điều 8).

Theo quy định tại Thông tư số 16/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 của NHNN hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của người cư trú, người không cư trú tại ngân hàng được phép cũng không có quy định nào liên quan đến việc cho phép sử dụng tài khoản ngoại tệ để nạp tiền vào Ví điện tử.

Bên cạnh đó, Điều 22 Pháp lệnh ngoại hối (Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 06/2013/PL-UBTVQH13) quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”.

Như vậy, việc cung ứng Ví điện tử chấp nhận tất cả các loại tiền tệ trên thế giới là không có cơ sở pháp lý để thực hiện ở Việt Nam.

Hiện nay, NHNN cũng đang hoàn thiện để sớm ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2014/TT-NHNNhướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán, qua đó tạo điều kiện cho sự phát triển các dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có Ví điện tử, nhằm đưa lại nhiều tiện ích, tăng cường bảo mật và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho khách hàng, góp phần thúc đẩy TTKDTM.

Xem 2286 lần
Đánh giá bài này
(1 Bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.