Thứ hai, 16 Tháng 12 2019
TIN MỚI

Vượt qua những thách thức trong phát triển ngân hàng số tại Việt Nam

Hinh anh Ngan hang soĐể đạt các mục tiêu phát triển ngân hàng số trong tương lai, ngành Ngân hàng xác định phát triển ngân hàng số là vấn đề chiến lược chứ không đơn thuần là một dự án công nghệ.

Bên cạnh những lợi thế vượt trội thì quá trình số hóa cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Để đạt các mục tiêu phát triển ngân hàng số trong tương lai, ngành ngân hàng xác định phát triển ngân hàng số là vấn đề chiến lược chứ không đơn thuần là một dự án công nghệ. Theo đó, các ngân hàng cần thay đổi tư duy, lấy khách hàng là trung tâm, chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu lớn cùng với việc thay đổi văn hóa kinh doanh, phương thức quản trị, đầu tư công nghệ, tích hợp kênh phân phối...

Lợi thế của ngân hàng số

Ngân hàng số là việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng trên nền tảng công nghệ số. Ngân hàng số dựa vào những công nghệ giải pháp mới như chuỗi khối, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa… chủ yếu được thực hiện thông qua internet, điện thoại di động, máy tính bảng và có thể cả mạng xã hội sau này. Vì thế ngân hàng số cho phép giao dịch ngân hàng diễn ra thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và rẻ hơn, giúp ngân hàng có được những trải nghiệm vượt trội so với giao dịch ngân hàng truyền thống đòi hỏi nhiều thủ tục giấy tờ và đích thân khách hàng phải đến ngân hàng để giao dịch.

So với mô hình ngân hàng truyền thống, ngân hàng số có nhiều điểm khác biệt và có lợi thế cạnh tranh hơn như: (i) Tất cả các kênh giao tiếp với khách hàng được thực hiện trực tuyến thông qua các thiết bị di động với một giao diện phong phú, trực quan và gắn kết, tạo sự gắn bó với khách hàng; (ii) Ngân hàng số thực sự sẽ thích nghi với mô hình hoạt động số hóa để cung cấp nhiều sản phẩm tài chính mới như thanh toán di động, cho vay tiêu dùng tín chấp trên nền tảng công nghệ phân tích dữ liệu tiên tiến, sản phẩm bảo hiểm số, đầu tư số...; (iii) Vận hành hiệu quả thông qua tự động hóa quy trình giúp giảm chi phí, tăng tốc độ xử lý và đảm bảo hiệu quả vận hành, giúp các ngân hàng nắm bắt hành vi thay đổi của khách hàng và bắt kịp tốc độ thay đổi nhanh của thị trường; (iv) Phát triển ngân hàng số, đặc biệt là sử dụng trí tuệ nhân tạo (A.I) có tiềm năng lớn cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng bán lẻ, tăng cường trải nghiệm khách hàng, giúp cho ngân hàng nắm lợi thế cạnh tranh hơn các ngân hàng không chủ động đón nhận đột phá số.

Với mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành ngân hàng trên nền tảng số từ ngân hàng số đã giúp các ngân hàng thích ứng tốt và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số, đem lại lợi ích to lớn cho ngân hàng về tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng sự gắn kết với khách hàng, đồng thời đem lại lợi ích thiết thực cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ. Cụ thể:

Trước hết, phát triển ngân hàng số giúp ngân hàng giảm chi phí và tăng doanh thu. Chẳng hạn như, ngân hàng số loại bỏ các hoạt động hỗ trợ tốn kém và nhu cầu đầu tư vào phần cứng và phần mềm đắt tiền cho các hệ thống cũ. Cần ít nhân viên hơn, cắt giảm chi phí hoạt động từ 20% đến 40%.

Bên cạnh đó, giúp ngân hàng phản ứng nhanh (agility) và thích ứng tốt hơn với những thay đổi của thị trường, công nghệ mới hoặc quy định, luật lệ mới. Cho phép điều chỉnh quy trình nhanh chóng, đơn giản và ra mắt sản phẩm nhanh hơn, giúp vượt lên và giành thắng lợi trong cạnh tranh.

Đồng thời, giúp tuân thủ tốt hơn các quy định, luật lệ mới. Cụ thể, với ngân hàng số, dữ liệu khách hàng được lưu trữ, quản lý tập trung, đồng bộ, giúp việc tuân thủ các quy định của E.U về ngân hàng mở (PSD2), bảo vệ dữ liệu khách hàng (GDPR)… trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Ngoài ra, triển khai ngân hàng số giúp ngân hàng khai phá lợi ích và khả năng của các công nghệ và xu hướng mới. Kết nối, chia sẻ dữ liệu mở qua giao diện chương trình ứng dụng (open API), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), Ngân hàng như một nền tảng (BaaP)… sẽ tác động đáng kể đến các mô hình kinh doanh ngân hàng. Các hệ thống cũ (legacy system) sẽ giới hạn khả năng thích ứng của ngân hàng truyền thống (incumbents) với bối cảnh mới. Ngân hàng cần chuyển đổi số để khai phá hết các lợi ích, khả năng của các công nghệ này và nắm bắt các công nghệ giúp ngân hàng thích ứng tốt trong tương lai.

Hơn thế, phát triển ngân hàng số sẽ tăng khả năng cạnh tranh (Viability). Ngân hàng số cho phép các ngân hàng phát triển được các dịch vụ có thể so sánh được, có chất lượng như Fintech và BigTech đang cung cấp. Ngân hàng số bởi vậy rất cần thiết để giúp các ngân hàng cạnh tranh sòng phẳng với các ngân hàng kiểu mới (neo-banks) và các tổ chức phi ngân hàng tham gia vào mảng tài chính về chi phí, tính năng sử dụng và sự hài lòng của khách hàng.

Thách thức khi triển khai ngân hàng số

Bên cạnh những lợi thế trên, quá trình triển khai ngân hàng số đang đặt ra một số thách thức cho ngành ngân hàng.

Thứ nhất, trong quản lý điều hành, khi ngành ngân hàng chuyển đổi các mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành, cung ứng dịch vụ ngân hàng theo mô hình kinh doanh mới, đòi hỏi phải thay đổi nhiều từ tư duy đến hành động.

Thứ hai, thách thức trong việc xây dựng hành lang pháp lý với đòi hỏi vừa phải tạo ra sự thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo vừa phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, tránh những bất ổn về tài chính.

Thứ ba, thách thức trong việc ngăn ngừa hiệu quả rủi ro an ninh mạng và đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin khách hàng, nhất là trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao đang có xu hướng gia tăng.

Thứ tư, thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng cho xây dựng và phát triển ngân hàng số. Điều này thực sự là thách thức lớn khi giáo dục đào tạo tại Việt Nam và mỗi ngân hàng chưa thực sự theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ.

Thứ năm, thiếu nguồn lực tài chính dành cho chuyển đổi số, đầu tư, ứng dụng các công nghệ, giải pháp mới nhất là đối với các ngân hàng có quy mô vừa và nhỏ.

Cuối cùng chính là vấn đề ở tầm quốc gia. Chúng ta chưa có cơ sở dữ liệu định danh toàn quốc; hành lang pháp lý cho kinh tế số chưa đầy đủ, hạ tầng công nghệ thông tin còn có hạn chế nhất định; mức độ nhận thức, hiểu biết về kinh tế số, ngân hàng số của người dân và doanh nghiệp còn có phần hạn chế.

Chuyển đổi ngân hàng số tại Việt Nam

Có 3 cấp độ chuyển đổi ngân hàng số: một là chuyển đổi một phần, số hóa quy  trình, kênh phân phối hoặc sản phẩm dịch vụ; hai là xây dựng mảng kinh doanh số riêng cho ngân hàng; ba là số hóa toàn bộ hoạt động ngân hàng. Hiện đa số ngân hàng Việt đang theo cấp độ một, một số ngân hàng lớn đang đồng thời thực hiện cấp độ hai.

Các ngân hàng Việt Nam đã và đang thực hiện chuyển đổi số hướng tới một ngân hàng số thực thụ nhờ khai thác hàng loạt các công nghệ, giải pháp tiên tiến như: Điện toán đám mây (Cloud), Phân tích dữ liệu lớn (Big Data Analytics), Trí tuệ nhân tạo (A.I), Tự động hóa quy trình bằng rô-bốt (R.P.A), Chia sẻ dữ liệu qua giao diện chương trình ứng dụng mở (open API), Công nghệ chuỗi khối (Blockchain)… và đón nhận đột phá số (digital disruption), triển khai mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo, hợp tác theo hướng mở, qua đó thay đổi căn bản hoặc tái cấu trúc toàn diện quy trình xử lý nội bộ, mô hình kinh doanh theo hướng đơn giản-tinh gọn, số hóa, tự động, thông minh và tối ưu hóa các kênh giao tiếp với khách hàng theo hướng đa kênh đồng nhất.

Xu hướng gần đây cho thấy các ngân hàng Việt Nam đã chủ động tăng cường hợp tác với các tổ chức Fintech (các công ty cung cấp công nghệ tài chính) cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được cấp phép để tận dụng mô hình kinh doanh tinh gọn, sáng tạo, hướng tới trải nghiệm khách hàng của Fintech kết hợp với khuôn khổ quản lý rủi ro vững mạnh, cơ sở khách hàng rộng lớn của bản thân các ngân hàng để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong cung ứng dịch vụ, tạo bước phát triển mới của ngành ngân hàng - tài chính Việt Nam. Sự kết hợp này đem lại lợi ích thiết thực về giảm chi phí, tăng tiện ích cho khách hàng và góp phần đắc lực phổ cập tài chính địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Ngoài ra, xu hướng số hóa còn thể hiện rõ trong hoạt động thanh toán với những chuyển biến tích cực trong thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Theo Vụ Thanh toán (Ngân hàng Nhà nước - NHNN), cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả; đến cuối tháng 3/2019, trên toàn quốc có 18.668 ATM và 261.705 POS; POS được lắp đặt tại hầu hết các cơ sở, chuỗi phân phối, bán lẻ, khách sạn lớn, cơ sở y tế, bệnh viện, trường học... Số lượng và giá trị giao dịch thanh toán nội địa của thẻ ngân hàng tiếp tục tăng, trong quý I năm 2019 đạt 65 triệu giao dịch với tổng số tiền giao dịch là 171 nghìn tỷ đồng (tăng 18,45% về số lượng và 18,82% về giá trị so với cùng kỳ của năm 2017). Các NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng thanh toán hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ, độ an toàn thanh toán thẻ. Thanh toán điện tử qua Internet, điện thoại di động đạt được kết quả đáng ghi nhận, thu hút số lượng lớn khách hàng sử dụng. Trong quý I năm 2019, số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh Internet tăng 68,8% và 13,4% so với cùng kỳ năm 2018; số lượng và giá trị giao dịch tài chính qua kênh điện thoại di động tăng 97,7% và 232,3 % so với cùng kỳ năm 2018. Các ngân hàng đã đưa các công nghệ mới, hiện đại vào hoạt động thanh toán, đẩy mạnh các hình thức thanh toán hiện đại, an toàn, tiện lợi, được người tiêu dùng đón nhận tích cực.

TTKDTM trong khu vực công không ngừng được thúc đẩy và mở rộng. Tính đến nay, hệ thống IBPS đã hoàn thành kết nối thanh toán điện tử liên ngân hàng tại 63 kho bạc nhà nước cấp tỉnh; đã có khoảng 50 ngân hàng thương mại hoàn thành kết nối với hệ thống nộp thuế điện tử của Tổng cục Thuế trên 63 tỉnh/thành phố.

Khách hàng là trung tâm, ứng dụng công nghệ 4.0 là nền tảng

Toàn ngành ngân hàng thống nhất quan điểm phát triển ngân hàng số là vấn đề chiến lược chứ không đơn thuần là một dự án công nghệ. Theo đó, các ngân hàng cần thay đổi tư duy, lấy khách hàng là trung tâm, chú trọng xây dựng cơ sở dữ liệu lớn cùng với việc thay đổi văn hóa kinh doanh, phương thức quản trị, đầu tư công nghệ, tích hợp kênh phân phối...

Thời gian tới, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, NHNN tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách và ban hành các quy định quản lý tạo môi trường thuận lợi cho các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ thành tựu của CMCN 4.0 vào hoạt động ngân hàng, thanh toán, qua đó cho phép các đơn vị cung ứng các sản phẩm, dịch vụ đa dạng, tiện ích, hợp nhu cầu theo hướng lấy khách hàng làm trung tâm, góp phần hỗ trợ hoạt động kinh doanh năng động, liên tục đổi mới, sáng tạo của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Theo đó, NHNN đã xây dựng Nghị định thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP về TTKDTM để trình Chính phủ, trong đó có đề xuất chính sách tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ thanh toán của các tổ chức không phải ngân hàng; quy định về hoạt động đại lý thanh toán; Thanh toán xuyên biên giới... Bên cạnh đó, NHNN trình Thủ tướng Chính phủ Đề án áp dụng cơ chế quản lý thử nghiệm (Regulatory Sandbox) cho hoạt động Fintech trong lĩnh vực ngân hàng; khuyến khích đổi mới sáng tạo trong hoạt động ngân hàng, đẩy mạnh hợp tác ngân hàng - Fintech. Đồng thời xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ thí điểm việc cung ứng dịch vụ ví điện tử nạp/rút tiền không thông qua tài khoản ngân hàng, trong đó bao gồm cả việc các công ty viễn thông tham gia cung ứng thanh toán các dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile Money).

Cơ quan quản lý đã và đang tập trung hoàn thiện, ban hành cơ chế chính sách, xây dựng hành lang pháp lý trong hoạt động ngân hàng thích ứng với xu hướng số hóa dịch vụ và ứng dựng mạnh mẽ công nghệ số, hợp tác mở như: mô hình ngân hàng đại lý (agent banking); nhận biết ngân hàng điện tử (e-KYC); tiền điện tử (e-money), open API; Đề án về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox) cho các doanh nghiệp Fintech cung ứng giải pháp, dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng; Nâng cấp, xây dựng các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế (hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng - IBPS, hạ tầng thanh toán bù trừ tự động - ACH); xây dựng và triển khai tiêu chuẩn thống nhất về thanh toán QR Code, tiêu chuẩn thẻ Chíp nội địa… đảm bảo tính tương thích, liên thông.

Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế lĩnh vực công nghệ tài chính (giữa ngân hàng và Fintech) nhằm cung ứng dịch vụ ngân hàng - tài chính tiện ích, hợp nhu cầu, giá cả hợp lý, hướng tới đối tượng chưa tiếp cận dịch vụ ngân hàng truyền thống (unbanked), góp phần tăng độ bao phủ cung ứng dịch vụ ngân hàng đến người dân, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các ngân hàng chú trọng ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát, thu thập và phân tích dữ liệu; Cải tiến và tự động hóa quy trình xử lý; Hợp tác trong lĩnh vực giám sát và quản lý rủi ro an ninh mạng; tăng cường an ninh bảo mật.

Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực được các ngân hàng quan tâm nhằm thích ứng đổi mới sáng tạo và khai thác, tận dụng các mô hình kinh doanh sáng tạo, công nghệ mới gắn với công nghiệp 4.0 với nhiều cơ chế chính sách đặc thù nhằm thu hút, phát triển và giữ chân nguồn nhân lực vừa tinh thông nghiệp vụ ngân hàng vừa thành thạo về công nghệ số.

Đặc biệt, ngành ngân hàng đã và đang tích cực phối hợp xây dựng, triển khai Chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện, qua đó nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về tài chính của người tiêu dùng trong lĩnh vực ngân hàng-tài chính-thanh toán. Công tác truyền thông, giáo dục tài chính được đẩy mạnh với hình thức thể hiện thật gần gũi, dễ hiểu, thiết thực hướng tới các đối tượng yếu thế trong xã hội, qua đó nâng cao kiến thức, khả năng tiếp cận sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho người dân.

Tóm lại, xu thế ngân hàng số là tất yếu nên dù có khó khăn, thách thức, nhưng với sự quan tâm của Chính phủ, nỗ lực của các ngân hàng trong bối cảnh ứng dụng thành tựu của cách mạnh công nghệ 4.0, ngành ngân hàng sẽ vượt qua và thành công trên con đường xây dựng hệ thống ngân hàng số.

Theo SBV

Xem 1539 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.