Thứ năm, 21 Tháng 11 2019
TIN MỚI

Thực trạng hoạt động của hệ thống QTDND tại Việt Nam

Hinh anh quy tin dung hoat dongTrải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, hệ thống QTDND không ngừng lớn mạnh cả về quy mô và số lượng, càng khẳng định được chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước về phát triển loại hình kinh tế hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ.

Hệ thống QTDND hoạt động lành mạnh, tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn trong hoạt động ngân hàng, hỗ trợ thành viên, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo và hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn. Các chỉ tiêu hoạt động và tài chính của hệ thống QTDND hàng năm đều có sự tăng trưởng ổn định: tổng nguồn vốn hoạt động duy trì mức tăng ổn định, năm sau cao hơn năm trước; vốn huy động và dư nợ cho vay tăng trưởng đều và cân đối. Trong đó, chủ yếu là huy động và cho vay thành viên phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được trong suốt chặng đường hình thành và phát triển, hệ thống QTDND cũng bộc lộ một số những tồn tại, hạn chế tại một bộ phận các quỹ.

Có biểu hiện xa rời mục tiêu, tôn chỉ hoạt động

QTDND là loại hình TCTD hợp tác, được tổ chức theo các nguyên tắc hợp tác xã, tuân thủ theo các quy định của Luật Hợp tác xã và Luật các TCTD, được thành lập và hoạt động theo địa giới hành chính (một xã, phường, thị trấn hoặc liên xã, phường, thị trấn...), được hạch toán độc lập, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống.

Tuy nhiên, một bộ phận QTDND xa rời mục tiêu hoạt động và các nguyên tắc cơ bản của TCTD hợp tác, xa rời mục tiêu tương trợ, hỗ trợ thành viên, mở rộng hoạt động ngoài địa bàn.

Về mục tiêu liên kết hệ thống, tương trợ, hỗ trợ thành viên, Thông tư 04/2015/TT-NHNN quy định về QTDND đã quy định QTDND gửi tiền nhàn rỗi tại NHHTX để thực hiện vai trò liên kết hệ thống, kịp thời hỗ trợ thành viên và chỉ được mở tài khoản thanh toán tại TCTD khác không phải là NHHTX để phục vụ hoạt động thanh toán. Tuy nhiên đến 31/3/2019 vẫn còn khoảng 5% số QTDND (60 QTDND)có số dư tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD khác mà không phải là NHHTX.

Về địa bàn hoạt động, để tương trợ, hỗ trợ thành viên trong địa bàn, Thông tư 04/2015/TT-NHNN quy định về QTDND quy định cụ thể về địa bàn hoạt động gồm: i) QTDND hoạt động trên địa bàn 1 xã, phường, thị trấn; ii) Các QTDND có thể được chấp thuận hoạt động trên địa bàn liên xã (là các xã liền kề với xã nơi QTDND đặt trụ sở chính thuộc phạm vi trong cùng một quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo yêu cầu của NHNN. Đồng thời, tại Thông tư cũng cũng gia hạn thời gian tối đa (36 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực từ 1/6/2015) để những QTDND chưa đáp ứng yêu cầu về địa bàn có lộ trình để thực hiện theo các yêu cầu này.Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại một số QTDND có địa bàn hoạt động liên huyện, chưa đáp ứng được yêu cầu của NHNN về tuân thủ địa bàn.

Quy định về an toàn, hoạt động là như nhau đối với tất cả các QTDND

Đến 31/3/2019, tổng nguồn vốn cả hệ thống QTDND đạt khoảng 116 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,1% nguồn vốn của hệ thống NHTM.

Theo số liệu của BHTGVN, hơn một nửa tổng số QTDND (55,7%) có tổng nguồn vốn từ 30-70 tỷ đồng. Tuy nhiên, có một thực tế là tổng nguồn vốn không đồng đều giữa các QTDND,có 12 QTDND có tổng nguồn vốn rất nhỏ, từ 1 đến 10 tỷ đồng. Trong khi đó, có11 QTDND có tổng nguồn vốn lớn hơn 500 tỷ đồng, cá biệt có QTDND có tổng nguồn vốn hoạt động rất lớn, lên đến trên 1.300 tỷ đồng, gấp gần 4 lần tổng nguồn vốn của 1 chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quy mô nhỏ nhất.

Thuc trang hoat dong cua he thong QTDND tai Viet NamTuy nhiên, các quy định của pháp luật về an toàn và hoạt động là được áp dụng chung đối với tất cả các QTDND, từ quỹ có tổng nguồn vốn hơn 1 tỷ đồng đến quỹ có tổng nguồn vốn hơn 1.300 tỷ đồng. Điều này có thể gây ra rủi ro cho hệ thống khi các QTDND quy mô lớn chỉ cần tuân thủ các quy định hiện hành mà không tự giác nâng cao khả năng phòng thủ rủi ro.

Hoạt động của các QTDND bị cạnh tranh bởi các loại hình TCTD khác

Hiện nay, hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển và tham gia vào mọi hoạt động kinh tế. Số lượng và loại hình các TCTD ngày càng tăng, nhất là các loại hình TCTD tham gia vào lĩnh vực tín dụng ở khu vực nông thôn. Cụ thể:

Đến 31/3/2019, Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) đã có mặt tại 98,2% số xã trong cả nước (10.959 xã trên tổng số 11.162 xã của cả nước). Đây là loại hình có mức độ tiếp cận sâu, sát với người dân. Thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn, người dân được nắm bắt, cập nhật rất nhanh về nhu cầu đối với các sản phẩm tài chính. Cùng với việc đổi mới quy trình, cách làm, mạng lưới NHCSXH đã, đang và từng bước trở thành một thách thức đối với các QTDND.

Ngoài ra, loại hình Tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) tuy mới được thành lập năm 2012, nhưng đến nay đã có sự phát triển lớn mạnh cả về quy mô và thị phần. Đến 31/3/2019, có 04 TCTCVM hoạt động trên cả nước với 115 điểm, phòng giao dịch. Đặc biệt, đây là loại hình có các chỉ tiêu an toàn ở mức tốt nhất trong số các loại hình TCTD đang hoạt động hiện nay. Trong khi đó, cơ chế hoạt động của loại hình này rất đặc thù và am hiểu địa bàn với đội ngũ cộng tác viên và khách hàng đông đảo thuộc các đối tượng mà có thể chính các QTDND đang phục vụ.

Đến 31/3/2019, hệ thống QTDND có 1.182 QTD với 1.487 chi nhánh, phòng giao dịch.Nếu so sánh về thị phần hoạt động, về khả năng cạnh tranh theo các yếu tố như khả năng về vốn, khả năng tiếp cận thị trường, khả năng quản trị điều hành…thì đây sẽ là một thách thức rất lớn đối với QTDND. Tuy nhiên, QTDND có một đặc thù hoạt động mà các loại hình TCTD khác không có đó là tôn chỉ mục tiêu hoạt động, phục vụ thành viên và tính liên kết cộng đồng, hỗ trợ thành viên như Phó Thống đốc Đào Minh Tú đã từng chỉ đạo tại Đại hội đại biểu thường niên Ngân hàng Hợp tác năm 2017.

Như vậy, có thể thấy mỗi loại hình TCTD đang hoạt động hiện nay đều có một vị trí, vai trò đặc biệt đóng góp chung vào sự phát triển đa dạng của hệ thống ngân hàng, của nền kinh tế. Mỗi loại hình đều có một tôn chỉ, mục đích hoạt động khác nhau, được coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình tồn tại và hoạt động. Trong bối cảnh hoạt động của hệ thống ngân hàng ngày càng phức tạp và mức độ cạnh tranh ngày càng cao, việc tuân thủ nghiêm mục tiêu, tôn chỉ hoạt động là yêu cầu sống còn đối với mỗi loại hình TCTD, đặc biệt là các QTDND.

Hoạt động của QTDND phát sinh ngày càng nhiều rủi ro, trong đó, rủi ro đạo đức chiếm đa số

Thời gian qua, trong quá trình hoạt động đã xuất hiện các QTDND vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật dẫn đến được đặt vào tình trạng KSĐB. Nguyên nhân chủ yếu là do rủi ro về đạo đức của một số bộ phận lãnh đạo và cán bộ quỹ vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động QTDND.

Bên cạnh đó, còn có một số lãnh đạo quỹ thiếu trách nhiệm hoặc năng lực quản lý điều hành yếu kém dẫn đến bị lợi dụng làm thất thoát tài sản. Việc này không chỉ gây mất ổn định của thị trường tài chính, tiền tệ trong nước mà còn mất an toàn, an ninh chính trị trên nhiều địa bàn trong cả nước. Số QTDND được đặt vào tình trạng KSĐB ngày càng tăng, hiện tại đã có trên 20 QTDND. Trong đó hầu hếtcác quỹ này đều có các sai phạm xuất phát từ rủi ro đạo đức.

Tiêu biểu, có thể kể đến một số vụ sai phạm tại QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Giám đốc cùng người nhà thâu tóm, chỉ đạo, chi phối toàn bộ hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, dẫn đến mất khả năng chi trả…

Hay như sai phạm trong công tác huy động vốn do việc quản lý lỏng lẻo, sai phạm trong việc quản lý sổ tiết kiệm trắng, Giám đốc lợi dụng chức vụ đã huy động vốn để ngoài sổ sách tại một số QTDND ở Bắc Giang, Bắc Ninh…

Hoặc như sai phạm trong hoạt động cho vay, có thể kể đến một số vụ việc sau:

- Cho vay một số đối tượng (không phải là thành viên Quỹ), là các cá nhân ngoài địa bàn hoạt động, là chủ một số doanh nghiệp dẫn đến thua lỗ, không có khả năng trả nợ tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa...;

- Chủ tịch HĐQT, Giám đốc, Phó giám đốc kiêm cán bộ tín dụng, kế toán, thủ quỹ và một số cán bộ Quỹ lập hồ sơ tín dụng khống; Ban kiểm soát buông lỏng quản lý dẫn đến không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động cho vay gây mất an toàn kho quỹ. Chủ tịch HĐQT lập hồ sơ khống rút tiền của Quỹ, ủy viên HĐQT kiêm Giám đốc điều hành lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô chiếm đoạt tài sản lớn của Quỹ.. tại địa bàn Hà Nội, Hưng Yên...

Điều này cho thấy hệ thống kiểm soát rủi ro tại các QTDND vốn đã yếu lại dễ dàng bị vô hiệu hóa bởi các cá nhân lãnh đạo quỹ. Tất cả các vi phạm điển hình trên và các vi phạm khác đã được Thống đốc NHNN yêu cầu quán triệt tới từng QTDND tại Chỉ thị 06/CT-NHNN ngày 02/10/2018. Cụ thể, yêu cầu quán triệt tới người đứng đầu, Ban lãnh đạo cần quan tâm, nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động tại từng Quỹ; đồng thời quán triệt tới tất cả cán bộ, nhân viên, chỉ đạo triển khai quyết liệt các giải pháp phòng, chống, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là các hành vi đã được cảnh báo tại Chỉ thị này.

TS. Phạm Bảo Khánh - Phó Tổng giám đốc DIV

Xem 2116 lần
Đánh giá bài này
(0 bình chọn)
Xem theo ngày tháng

Gửi bình luận

Chắc chắn rằng bạn đã điền đầy đủ các thông tin bắt buộc, được đánh dấu bởi dấu (*). Không cho phép dùng mã HTML.