BIS công bố dữ liệu thống kê hoạt động ngân hàng quốc tế và thanh khoản toàn cầu

Thứ năm, 19 Tháng 8 2021 06:06

Ngày 28/7/2021, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố số liệu thống kê tình hình hoạt động cho vay qua biên giới và thanh khoản toàn cầu tính đến cuối quý I/2021.

1. Tín dụng ngân hàng qua biên giới

Sau khi tăng trong quý trước, trái quyền ngân hàng qua biên giới tiếp tục tăng 646 tỷ USD trong quý I/2021 lên 36 nghìn tỷ USD, nhưng giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trái quyền đối với các nước phát triển tăng cao trở lại với 460 tỷ USD trong quý I/2021, đa phần là trái quyền đối với khách hàng vay vốn tại khu vực đồng euro, khi đại dịch bùng phát. Trái quyền đối với Đức và Pháp tăng cao nhất (lần lượt tăng 202 tỷ USD và 136 tỷ USD), chủ yếu là các khoản cho vay liên ngân hàng. Nhờ tín dụng liên ngân hàng giảm, trái quyền đối với Italia giảm 9 tỷ USD.

Đối với những nước phát triển hàng đầu khác, trái quyền qua biên giới cũng tăng mạnh trong quý I/2021. Các ngân hàng tại Nhật Bản báo cáo là đang nắm giữ số lượng lớn chứng khoán do các định chế phi ngân hàng tại Mỹ phát hành, nâng tổng mức trái quyền tăng thêm 123 tỷ USD tại quốc gia này. Tương tự, các ngân hàng tại Pháp đã cấp vốn cho các chi nhánh tại Nhật Bản, đưa mức vốn tăng thêm 89 tỷ USD tại quốc gia này. Trái lại, trái quyền đối với Vương quốc Anh ghi nhận mức giảm khá sâu (178 tỷ USD), giảm 5% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân là do trái quyền đối với các ngân hàng và các định chế tài chính phi ngân hàng giảm, chủ yếu là các công cụ phái sinh và cổ phần nắm giữ.

Trái quyền đối với khu vực chính thức (bao gồm các chính phủ và ngân hàng trung ương) chiếm 27%, tăng 7% từ tỷ trọng 22% vào cuối năm 2019. Tín dụng ngoại tệ tăng cao, và USD vẫn chiếm vị thế áp đảo, trong khi cho vay EUR và JPY yếu ớt. Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng dưới dạng ba ngoại tệ này đều giảm, nguyên nhân là do trái phiếu phát hành dưới dạng USD và EUR tăng cao.

Trái quyền đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển (EMDEs) cũng bật tăng trở lại với tổng giá trị 114 tỷ USD - lớn nhất kể từ quý I/2017, chủ yếu là nhờ cho vay sang châu Á và khu vực Thái Bình Dương. Trái quyền đối với châu Á và khu vực Thái Bình Dương ghi nhận tốc độ tăng cao nhất với 118 tỷ USD - mức tăng lớn nhất kể từ năm 2017, do mức tăng đột ngột 66 tỷ USD đối với Trung Quốc, vượt xa những khách hàng vay vốn khác tại EMDEs. Theo báo cáo, các ngân hàng tại Pháp, Macao, Nhật Bản và Hàn Quốc đóng góp 75% mức tăng này (giót vốn cho các ngân hàng và các định chế phi ngân hàng tại Trung Quốc). Trái quyền ngân hàng đối với Đài Loan, Hàn Quốc, và Ấn Độ cũng tăng (lần lượt 24 tỷ USD; 15 tỷ USD; và 3 tỷ USD), trong khi giảm đối với Thái Lan (-3 tỷ USD).

Trái quyền đối với khách hàng vay vốn tại châu Phi, Trung Đông tăng 13 tỷ USD, và tại các nước mới nổi châu Âu tăng 1 tỷ USD. Cụ thể là, trái quyền mở rộng đối với Israel (5 tỷ USD) và Qatar (4 tỷ USD). Tại các nước mới nổi châu Âu, dòng vốn vào Nga và Hungary lần lượt tăng 4 tỷ USD và 3 tỷ USD, trong khi cùng giảm 2 tỷ USD tại Séc và Rumani.

Trái lại, trái quyền đối với Mỹ Latinh giảm 18 tỷ USD, đưa tổng mức giảm kể từ cuối năm 2019 lên 89 tỷ USD, giảm 13,3% so với cùng kỳ năm trước - mức sâu nhất kể từ quý II/2009. Trái quyền đối với các quốc gia hàng đầu Mỹ Latinh giảm dần từ cuối năm 2019; trong đó, Brazil giảm 43 tỷ USD, Mexico giảm 15 tỷ USD, Chilê giảm 10 tỷ USD, Colombia giảm 4 tỷ USD. Trái quyền đối với các ngân hàng tại khu vực này ghi nhận mức thu hẹp sâu nhất, tiếp đến là các định chế phi ngân hàng (kể cả chính phủ). Báo cáo cho thấy, các ngân hàng tại quần đảo Cayman, Mỹ và Tây Ban Nha đã cắt giảm cho vay liên ngân hàng, trong khi các ngân hàng tại Anh giảm lượng chứng khoán nắm giữ do các khách hàng vay vốn tại Mexico phát hành.

Kể từ khi đại dịch bùng phát, bảng cân đối kế toán của các ngân hàng chiến lược toàn cầu đã mở rộng đáng kể. Thống kê ngân hàng hợp nhất (CBS) do BIS công bố cho thấy, các ngân hàng báo cáo tốc độ tăng tổng tài sản có 18% từ 67 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2019 lên 79 nghìn tỷ USD vào quý I/2021, và tổng tài sản nợ cũng tăng tương tự.

Về tổng thể, cho vay nước ngoài (trái quyền qua biên giới và các chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài) từ cuối năm 2019 đến quý I/2021 tăng 3,6 nghìn tỷ USD. Trong số này, trái quyền của các ngân hàng Mỹ đối với các đối tác ngoài Mỹ ghi nhận mức tăng cao nhất (tới 1,2 nghìn tỷ USD), chủ yếu là cho vay đối với khu vực chính thức tại các nước phát triển châu Âu, các định chế phi ngân hàng tại các nước phát triển châu Âu và quần đảo Cayman. Tương tự, trái quyền nước ngoài của các ngân hàng Nhật Bản và Pháp cũng mở rộng, lần lượt 739 tỷ USD và 532 tỷ USD.

Tuy nhiên, mức tăng trái quyền nước ngoài gần 70% của các ngân hàng kể từ cuối năm 2019 chủ yếu là trái quyền trong nước (trái quyền đối với người cư trú của ngân hàng báo cáo). Kết quả là, trái quyền nước ngoài thuần túy chỉ chiếm 33% tổng lượng trái quyền hợp nhất vào cuối quý I/2021, giảm 34% so với cuối năm 2019.

Kể từ khi xảy ra đại dịch, bảng kế toán ngân hàng mở rộng cùng với trái quyền đối với khu vực chính thức, bao gồm các chính phủ và ngân hàng trung ương (NHTW). Tổng giá trị trái quyền đối với khu vực này tăng từ 14,4 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2019 lên 21,4 nghìn tỷ USD vào cuối quý I/2021 (chủ yếu là trái phiếu chính phủ và dự trữ tại các NHTW) tăng 48%. Trong giai đoạn này, tỷ trọng trái quyền đối với khu vực chính thức tăng 5% lên 27% trong tổng giá trị trái quyền của các ngân hàng (không tính các ngân hàng Nhật Bản). Tỷ trọng trái quyền của các ngân hàng Canada, Mỹ và Pháp tăng gần 7%, của những ngân hàng khác tăng trung bình 5%.

Các ngân hàng rót vốn cho khu vực chính thức theo hai kênh, ở trong nước và từ nước ngoài. Trái quyền nội địa của ngân hàng đối với khu vực chính thức trong nước tăng từ 8,7 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2019 lên 13,5 nghìn tỷ USD vào cuối quý I/2021 (không tính các ngân hàng Nhật Bản), chiếm 55% tổng giá trị trái quyền tăng thêm trong giai đoạn này. Trái quyền nước ngoài (kể cả các ngân hàng Nhật Bản) đối với khu vực chính thức (cụ thể là Mỹ) tăng 532 tỷ USD (27%). Trái quyền của các ngân hàng ngoài nước Mỹ đối với khu vực chính thức tại Mỹ đạt 2,5 nghìn tỷ USD (gồm trái phiếu kho bạc Mỹ và dự trữ tại Fed), chiếm 34% trong tổng trái quyền nước ngoài hợp nhất, tăng từ tỷ trọng 31% vào cuối năm 2019. Về phần mình, trái quyền nước ngoài của các ngân hàng Mỹ đối với khu vực chính thức (bên ngoài nước Mỹ) đạt 1,4 nghìn tỷ USD, chiếm 34% tổng trái quyền nước ngoài.

2. Thanh khoản toàn cầu tính đến cuối tháng 3/2021

Chỉ số thanh khoản toàn cầu (GLIs) của BIS ghi lại lượng tín dụng đối với khách hàng phi ngân hàng, bao gồm tín dụng ngân hàng và cho vay trên thị trường trái phiếu, tập trung chủ yếu vào tín dụng ngoại tệ (dưới dạng USD, EUR, JPY) đối với người không cư trú (người vay là công dân bên ngoài khu vực tiền tệ). Ngoài ra, GLIs cũng ghi lại lượng tín dụng dưới dạng ba ngoại tệ này đối với khách hàng là công dân trong khu vực tiền tệ này.

Tính đến cuối quý I/2021, tín dụng USD bên ngoài nước Mỹ đạt 13 nghìn tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; tín dụng EUR bên ngoài khu vực đồng euro đạt 3,5 nghìn tỷ EUR (4,1 nghìn tỷ USD), chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; tín dụng JPY bên ngoài Nhật Bản đạt 47 nghìn tỷ JPY (0,4 nghìn tỷ USD), giảm 7% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tăng trưởng tín dụng bằng ba loại đồng tiền này vẫn yếu ớt so với trước đại dịch, và thấp hơn tín dụng trong nước của ba khu vực đồng tiền này. Trong mỗi loại tiền trên, cho vay đối với người cư trú là khách hàng phi ngân hàng tăng nhanh hơn so với cho vay đối với người không cư trú kể từ khi đại dịch bắt đầu xảy ra. Trong quý trước, tín dụng USD, EUR, JPY lần lượt tăng 11%, 8% và 5% so với cùng kỳ năm trước. Xu hướng mở rộng cho vay đối với người cư trú trong giai đoạn này bắt nguồn từ khu vực công, do các chính phủ phải tăng cường vay mượn để đối phó với đại dịch và hỗ trợ nền kinh tế.

Trong quý I/2021, tín dụng ngân hàng giảm rõ rệt, để mặc người vay huy động nguồn vốn ngoại tệ trên thị trường trái phiếu. Từ đầu năm 2000, cho vay USD, EUR, JPY đối với người không cư trú có xu hướng giảm dần, xuống mức tăng trưởng âm vào cuối quý I/2021 (lần lượt -3%, -6% và -8%). Trái lại, cho vay phát hành trái phiếu dưới dạng USD và EUR tiếp tục tăng cao (lần lượt 11% và 7% so với cùng kỳ năm trước).

Tăng trưởng tín dụng USD cho EMDEs nhìn chung vẫn ổn định, nhưng có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực. Kể từ năm 2014, cho vay đối với khách hàng tại châu Phi và Trung Đông có xu hướng tăng vững, riêng quý I/2021 tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Tại khu vực này, cho vay đối với khách hàng tại Arập Xêút tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giảm 8% tại Nam Phi.

Trong quý I/2021, cho vay USD đối với khách hàng tại các nước mới nổi châu Á - Thái Bình Dương chỉ tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, nhưng vượt xa kết quả tăng trung bình hàng năm 1% trong 4 năm trước đại dịch. Trong 4 quý vừa qua, cho vay đối với khách hàng tại Trung Quốc tăng trung bình 8% so với cùng kỳ năm trước, trong khi thu hẹp tại Ấn Độ (-6% so với cùng kỳ năm trước).

Cho vay USD đối với khách hàng tại Mỹ Latinh giảm một nửa từ mức tăng trung bình 4%/năm trong 5 năm vừa qua và có dấu hiệu chững lại. Trong đó, cho vay đối với khách hàng tại Mêhicô tăng trung bình 3%/năm, nhưng giảm 9%/năm tại Argentina và Brazil. Sau 6 năm tăng trưởng âm, tín dụng USD cho các nước mới nổi châu Âu ghi nhận mức tăng trưởng cận biên với 1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng 3% tại Thổ Nhĩ Kỳ, giảm 11% tại Nga.

Sự khác biệt về cho vay USD giữa các EMDE bắt nguồn chủ yếu từ tín dụng ngân hàng, trái với xu hướng gia tăng phát hành trái phiếu. Trong 4 quý tính đến ngày 31/3/2021, chỉ 3 quốc gia (trong số 14 quốc gia công bố dữ liệu GLI) ghi nhận xu hướng giảm dần lượng trái phiếu phát hành, trong khi tín dụng ngân hàng thu hẹp tại 10 quốc gia.

Tại châu Á - Thái Bình Dương, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn quốc ghi nhận kết quả tăng vững về tín dụng ngân hàng, với mức tăng 6-16% so với cùng kỳ năm trước. Theo kết quả thống kê, tín dụng ngân hàng dành cho khu vực này tăng khiêm tốn 2%/năm. Cùng với tốc độ phát hành trái phiếu (tăng tới 14%/năm), tín dụng ngân hàng đã đóng góp cho xu hướng tăng trưởng bền vững của tín dụng USD đối với châu Á - Thái Bình Dương. Trái lại, tín dụng ngân hàng cho các nền kinh tế chủ chốt tại Mỹ Latinh giảm 4 quý liên tiếp, với mức sụt giảm 13% trong toàn khu vực. Tương tự, trái phiếu phát hành cũng tăng chậm với 7%/năm, tăng trưởng tín dụng vì thế đi ngang.

Trong 5 năm tính đến ngày 31/3/2021, tín dụng USD, EUR, JPY hàng năm ghi nhận kết quả tăng trung bình 5%, 7% và 1%. Trong khu vực phi ngân hàng, trái phiếu chính phủ ghi nhận xu hướng mở rộng từ năm 2016 và đang chiếm vị thế áp đảo trong tổng lượng trái phiếu dưới dạng USD do các EMDE phát hành.

Theo SBV

Xem 1124 lần

footer